Đến nội dung

Tống Trần Tùng

Đăng ký: 09-08-2007
Offline Đăng nhập: 09:11PM, 11-04-2016
-----

#296769 Mùa đi mót

Posted by Tống Trần Tùng trong 09:44AM, 20-01-2012

Mùa đi mót
Tống Trần Tùng
Xin được giải thích ngay cụm từ “đi mót” ở đây. Theo từ điển tiếng Việt thì nghĩa thứ hai của từ mót là “nhặt nhạnh của để rơi vãi hoặc bỏ sót”. Tuy vậy, ở quê tôi, khi nói đến đi mót thì người ta nghĩ ngay đến đi mót ngày mùa, mùa gặt lúa, mùa cày khoai, mùa nhổ lạc… Đi mót lúa là đi lội ruộng chỉ còn toóc (rạ) để lảy, cắt những bông lúa còn sót lại sau khi gặt. Đi mót khoai là đi dò tìm, mò mẫm rồi hí húi bới đào những củ khoai lang còn nằm lại do chui sâu trong lòng đất nên khi cày hai bên vôồng (ngoài Bắc gọi là luống, còn Nam Bộ lại gọi là liếp) để dỡ khoai đã không được lấy lên. Đi mót lạc là đi xăm xoi rồi moi chọt những bụi lạc “hủi”, tức là những bụi lạc mà phần thân cây đã bị chết trước khi thu hoạch nên khi nhổ lạc người ta đã bỏ lại v.v. Nhưng không chỉ có vậy. Cũng như trăm ngàn công việc khác nhau trên đời, đi mót ngày mùa cũng đòi hỏi kỹ năng thành thạo, cũng trải nghiệm những buồn, vui, cũng để lại nhưng kỷ niệm khó quên của một thời nhỏ tuổi.
Đó là vào những năm giữa thập kỷ thứ năm của thế kỷ hai mươi. Lên tám, chín tuổi thì ngoài thời gian đến trường đi học là tôi đã biết đi mót để đỡ đần mẹ tôi phần nào trong cái cảnh chạy ăn từng bữa lúc bấy giờ. Nhà tôi lại chẳng còn lấy một tấc ruộng nào. Mùa gặt đến hầu như nhà nào cũng có thóc phơi trên sân, rơm chất thành đống mà nhà mình thì chẳng có một chút hơi hướng nào của mùa cơm mới nên tôi lại thấy càng tủi thân. Chỉ còn cách là đi mót lúa. Mót lúa để có cơm mới cúng ông bà, tổ tiên. Mót lúa để có thêm cơm ăn, nhất là thứ cơm nấu bằng gạo mới. Cơm là thực phẩm quan trọng nhất trong các bữa ăn hàng ngày hồi đó đối với chúng tôi, còn thức ăn là dưa nhút tương cà, xôm lắm thì có thêm mấy hột lạc rang muối. Bữa trưa và bữa tối, tôi và anh cả đều là con trai, lại đang tuổi lớn nên mỗi người được 3 lưng đọi cơm hấp (độn) khoai đao (củ dong riềng) hoặc khoai lang, nhưng ăn hết rồi mà vẫn thấy thòm thèm. Mẹ tôi vẫn thường nói đùa, không biết đến bao giờ mới giao được đũa bếp (đũa cả) cho các con. Chẳng là cầm đũa bếp thì sẽ nhận trách nhiệm quan trọng là chia cơm cho mọi người trong bữa ăn. Vì vậy, khi mùa gặt đến là tôi hăm hở tranh thủ đi mót. Lúa vụ chiêm ở quê tôi đều được cấy cày ở các thửa ruộng sâu. Mùa gặt lúa chiêm, lội xuống ruộng vào buổi trưa đúng là “nước như ai nấu chết cả cá cờ”, còn nắng đốt trên đầu cùng với gió nam cào như muốn thiêu cháy những túm tóc cứng cạu. Nhưng ngán nhất lại là những con đỉa “mén”. Những con đỉa “trâu” tuy trông thì dễ sợ nhưng còn nhìn thấy để kịp xua đuổi, kịp khoắng chân khiến nó mất phương hướng, nhưng những con đỉa mén bé như cái tăm lại thoắt ẩn thoắt hiện, chỉ cần không để ý nhìn xuống mặt nước chốc lát đã thấy ngứa nơi cổ chân. Và cu cậu đỉa mén bám chặt vào da chân lúc nào đã kịp hút máu phình to bằng chiếc đũa. Nhổ một ít nước bọt vào đầu ngón tay rồi túm lấy thì mới dứt được cu cậu ra ném lên bờ. Máu rỉ ra từ cổ chân nhưng rồi cũng chẳng sao vì còn mải nhìn vào đám toóc tìm kiếm những bông lúa, dé lúa còn sót lại. Ngày ấy giống lúa chiêm cao hơn giống lúa ngày nay. Thợ gặt dùng vòi hái là cái tay tre uốn cong ở đầu thân hái, móc gom mấy bụi lúa với nhau rồi đẩy lưỡi hái cắt xoẹt khoảng một phần ba phía trên của cây lúa. Gom, cắt vài ba lần như vậy sẽ được chặt tay nắm thành một “tay” lúa. Những “tay” lúa này được những người thợ gặt khéo léo dùng chính các dé lúa quấn lại và đặt tạm lên đám “toóc”. Khi các “tay” lúa đã nằm ngổn ngang trên đám “toóc” thì một trong số những người thợ gặt sẽ quay lại dùng những đoạn toóc nối lại để bó thành “gồi” và “lượm”. Ba “tay” bó lại thành một “gồi”. Bốn “gồi” thành một “lượm”. Tùy theo khả năng người gánh, ba, bốn, năm … lượm được bó lại thành một đầu gánh. Người ta cắm ngập hai đầu nhọn của đòn xóc vào hai bó lúa này thành một gánh lúa rất gọn gàng. Ở quê tôi, thời đó, người ta gánh lúa bằng đòn xóc nhọn hai đầu chứ không gánh lúa bằng gióng, bằng quang. Những bông lúa trĩu hạt quay xuống dưới ken sít vào nhau, đung đưa lúc lỉu theo nhịp bước của người gánh lúa như mang cái no đủ của ngày gặt mùa về cho từng nhà. Những đứa trẻ đi mót như tôi, cũng có khi có cả những người lớn tuổi nữa, chỉ lội xuống ruộng khi đám ruộng đã được gặt gần xong, biến thành ruộng toóc, ruộng rạ. Đảo mắt thật nhanh, chân lội cũng phải thật nhanh khi nhìn thấy những bông lúa còn sót lại của những nhánh lúa có chiều cao bé hơn các cây lúa khác nên đã không bị lưỡi hái cắt đi. Nhưng khoái nhất là khi nhìn thấy những nhánh lúa bị đổ rạp xuống mặt nước mà cái vòi hái của thợ gặt đã không gom đến. Những bông lúa kiểu đó lại thường rất sai hạt và hạt lại rất mẩy. Có lẽ vì thế nên đầu bông lúa mới nặng trĩu và kéo cả thân nhánh lúa nghiêng ngả. Cũng có thể các chú chuột đồng tinh ranh nhận ra các bông lúa mẩy hạt nên đã vít cây lúa xuống nhưng chúng chưa kịp chén. Mà những đứa trẻ đi mót như chúng tôi cũng chẳng cần biết đến nguyên nhân gì, chỉ cần nhìn thấy những bông lúa nặng trĩu, mẩy hạt như thế là sướng rơn cả người, khoái chí vung tay “lảy” thật nhanh. Bàn tay phải kẹp con dao mót bằng ngón cái và ngón giữa thọc vội đến ngang “cổ hẻn” của bông lúa, tức là chỗ mắt nối giữa thân cây lúa và bông lúa, còn ngón tay trỏ như cái vòi hái luồn nhanh sang bên phải cái “cổ hẻn” ấy để móc bông lúa vào giữa ngón trỏ và lưỡi dao mót. Hất nhẹ tay ra phía trước là “cổ hẻn” của bông lúa đã được lưỡi dao mót sắc ngọt lảy đứt. Thế là phần “cổ hẻn” của bông lúa được ngón trỏ và ngón cái kẹp chặt. Cứ thoăn thoắt như vậy, đảo mắt thật nhanh, lội thật nhanh, phát hiện thật nhanh và “lảy” thật nhanh. Chỉ chốc lát là các bông lúa rặt những hạt, tịnh không có một cái lá lúa nào lẫn vào, đã được lèn chặt trong cái khoảng không giữa ngón cái và ngón trỏ. Thế là đã có một “tay” lúa mót ném vào cái thúng được đội trên đầu hoặc cắp ngang hông bằng cánh tay trái. Gọi là “tay” cho nó sướng bụng những kẻ đi mót như chúng tôi, chứ thật ra, một “tay” lúa mót chỉ được khoảng một vài lạng, trong khi một tay lúa gặt phải có đến ba, bốn cân lúa hạt. Để “lảy” mót lúa thành thạo, cũng phải mất dăm buổi tập dần. Buổi đầu lóng ngóng có khi còn bị đứt tay vì con dao mót sắc lẹm, lưỡi dao chỉ nhỉnh hơn cái lá tre một chút, còn cán dao cũng chỉ to hơn quả ớt mà thôi. Nhưng đến khi lảy được thành thạo, tay mót đã ken đầy mà không có bông lúa nào bị rơi ra trong khi lảy tiếp các bông khác là cảm thấy hãnh diện và sung sướng lắm. Nhưng sung sướng nhất là khi gặp được những chủ ruộng hoặc những cô bác thợ gặt tốt bụng, thương người. Thương những đứa trẻ đi mót như chúng tôi, họ thường cho hoặc dúi cho chúng tôi nửa tay, có khi cả một tay lúa gặt. Cả tay lúa gặt chứ không phải là tay lúa mót đâu nhé! Bây giờ xem chương trình truyền hình “Lục lạc vàng” có cảnh người đi mót lúa lội ruộng tay cắp thúng, tay thò xuống nhổ cả thân cây lúa đưa lên miệng cắn đứt ngang thân cây lúa rồi ném bông lúa vào thúng mà thấy nó kỳ kỳ không ổn thế nào ấy. Ai lại mót lúa theo kiểu như thế kia chứ?
Mùa gặt dù vụ chiêm hay vụ mùa cũng chỉ diễn ra trong vài ba tuần nên ngày nào đi học về, ăn vội bữa trưa xong là tôi lại thúng cắp hông, dao mót dắt dây lưng lao ra đồng. Đi mót vụ chiêm tuy phải lội nước, đội nắng và bị đỉa cắn nhưng thường mót được nhiều hơn do lúa hay bị đổ. Từ trưa đến xẩm tối, ít nhất cũng phải xuống mót được ở dăm bảy mảnh ruộng, lảy được một vài chục “tay” lúa mót và may mắn thì cũng được người ta dúi cho một vài “tay” lúa gặt. Thế là tối về đã có được dăm ba cân lúa tươi. Còn đi mót vụ mùa thì sướng hơn nhưng lại mót được ít hơn, một buổi nhiều lắm cũng chỉ được một vài cân vì lúa không bị đổ, lại mọc đều. Tuy mót được ít nhưng tôi vẫn thích đi mót lúa vụ mùa hơn. Thích hơn vì ruộng khô, trời nắng hanh, gió nhẹ, lội ruộng đi mót mà cứ như đi ngắm đồng lúa vàng rực đến nao người mà chẳng đổ một giọt mồ hôi nào. Ruộng khô nên cái mùi thơm của rơm rạ, của hạt lúa ngày mùa cũng trở nên tinh khiết hơn, quyến rũ hơn chứ không bị cái mùi bùn lấn át như trong mùa gặt vụ chiêm. Ruộng lúa vụ mùa lại lắm châu chấu. Ở quê tôi, người ta chỉ ăn con châu chấu là cái con mà ngoài Bắc gọi là con muỗm ruộng lúa. Còn những con mà ngoài Bắc gọi là châu chấu thì quê tôi lại gọi là cào cào. Mà cào cào thì lắm loại lắm. Cào cào ma có cánh lấm chấm những nót và vằn đen, cào cào mốc màu gỗ mục mốc thếch trông gớm ghiếc, cào cào sim to bằng ngón tay, mình xanh lục, cánh lụa bên trong tím hồng, cào cào đá to hơn cả ngón chân cái, chân, càng toàn những răng cưa nhọn hoắt... Các loại cào này chúng tôi chỉ bắt về cho chim, cho gà ăn hoặc buộc dây cho trẻ con chơi mà thôi. Bắt được những con châu chấu béo múp, dùng cọng rơm xâu lại, treo lủng lẳng ở cái dây buộc ngang lưng, nghe chúng đạp tanh tách vào nhau không chỉ vui tai mà còn tưởng tượng ra được cái mùi thơm ngậy đến chảy nước miếng khi nghĩ đến cảnh tối về được đem nướng chúng trên bếp lửa rồi chia cho mọi người. Vụ lúa mùa lại còn nhiều chim bay về nữa chứ, nhất là chèo bẻo, “trúc quay”. Nhiều hôm mải nấp rình đánh nhựa dính bắt chèo bẻo, thả chuồn chuồn bắt “trúc quay”, nên tối về trong thúng chỉ được vài “tay” mót. Dùng nhựa dính bắt chèo bẻo, “trúc quay” trong những ngày gặt mùa là một thú vui đặc biệt hấp dẫn và không bao giờ quên được của tuổi nhỏ chúng tôi. Chọn một nhánh lúa thật cao, cứng, tuốt hết hạt lúa chỉ còn trơ cọng rơm, bôi nhựa dính vào phần trên các cọng rơm, lấy sợi chỉ buộc một con chuồn chuồn voi vào “cổ hẻn” của bông lúa để khi bay quanh, chuồn chuồn không bị dính nhựa. Thế là được một cái bẫy dính để bắt chim chèo bẻo. Cúi thật thấp và luồn lách chọn một chỗ nấp thật kín trong ruộng lúa chín chưa gặt và nhẹ nhàng đưa cái bẫy dính này lên cao khỏi ruộng lúa. Chèo bẻo trông thấy chuồn chuồn lè xè bay quanh cọng rơm sẽ lao tới bắt mồi và bị dính nhựa. Còn bẫy “trúc quay” còn thú vị và hấp dẫn hơn nhiều. “Trúc quay” là một loài chim thường bay lượn liên tục và bắt mồi trên không. Chúng tôi chỉ biết người ta gọi tên nó là “trúc quay” nhưng cũng chẳng biết cái tên này có trong từ điển các loài chim hay không. Có lẽ phải hỏi giáo sư Vũ Quý thì may chi mới biết được “trúc quay” là giống chim gì. Mà có khi cái tên chim “trúc quay” chẳng qua là do bọn trẻ đánh bẫy nhựa dính bịa ra mà thôi. Chẳng là “trúc” theo phương ngữ quê tôi là bị lật nhào, lộn nhào. “Bổ trúc đồi” có nghĩa là ngã lộn đầu xuống đất. Lấy một sợi tóc bôi nhựa dính cắm vào đuôi một con chuồn chuồn voi, xong thả chuồn chuồn cho bay lên cao. “Trúc quay” trông thấy chuồn chuồn bay khó khăn sẽ lao tới đớp mồi và sẽ bị sợi tóc dính nhựa quấn quanh, quay tròn lao đầu rơi xuống. Đúng là vừa “trúc” vừa “quay”. Vẫn biết cái trò bẫy chim tốn nhiều thời gian và do vậy sẽ mót được ít lúa, đọi cơm sẽ vơi hơn, nhưng bọn trẻ đi mót chúng tôi thà chịu đói, chịu mắng nhưng vẫn không tài nào cưỡng lại được. Bẫy được chú chim chèo bẻo hay vồ được chú “trúc quay” lao xuống còn thấy sướng hơn được người ta cho cả lượm lúa.
Mùa gặt tháng năm, tháng mười quanh quẩn cũng chỉ dăm ba tuần. Xen vào giữa hai mùa gặt chính còn có vụ lúa “trấn”, tức là lúa ngắn ngày vụ thu hay còn gọi là lúa ba giăng. Không biết có phải vụ lúa này thường bị ngập nước do những cơn lũ đầu mùa, nhiều khi gặt không kịp nên được gọi là vụ lúa “trấn” chăng. Chả là “trấn” theo thổ ngữ quê tôi có nghĩa là nhúng nước mà. Lúa “trấn” lụt sớm không kịp gặt, khi nước rút, hạt lúa bị thối nên chỉ còn những kẻ đi mót nhưng chúng tôi lội ruộng để bòn mót những bông lúa may ra còn có thể ăn được mà thôi. Lại còn ruộng sâu vụ chiêm gặt xong chưa kịp cày, lúa “chét” đâm bông là bọn tôi lại lội xuống lảy, bòn lúa “chét”.
Xen giữa các mùa gặt lúa tháng năm, tháng mười, lúa trấn là mùa cày khoai lang, mùa nhổ lạc. Đầu vôồng khoai là nơi dễ bị sót khoai nhất, mà chỗ đó thường củ khoai lang lại to nữa chứ, lũ đi mót chúng tôi vớ được cứ gọi là mừng ú. Nhưng mót được khoai lang nhiều nhất là khi người ta cày khoai chạy lụt. Khoai lang ngập lụt không để lâu được, dễ bị thối, thường có cái mùi thum thủm nhưng lại khá ngọt và phải luộc ăn ngay hoặc luộc xong đem thái ra phơi khô làm khoai “deo” để ăn dần. Có lẽ khoai “deo” là một thứ đặc sản riêng của quê tôi chăng? Miếng khoai lang nấu chín, phơi khô thành “khoai deo” trở nên dai cứng, trong và bóng như một miếng hổ phách. Sáng sớm mùa đông mưa phùn, gió rét, cắp sách đến trường với cái bụng đói mà có được mấy miếng khoai “deo” trong “bâu áo”, vừa chạy cho kịp giờ học vừa cố nhai cho mềm miếng khoai “deo” thì đã là sướng như tiên rồi đó. Sau mùa nhổ lạc, ruộng nương chưa kịp cày vỡ, đất bãi sông toàn là đất bồi mềm xốp nên chỉ đợi trận mưa rào là chúng tôi chạy ù đi nhặt “lạc xói”. Đó là những trấy lạc, có khi cả những túm lạc bị đất mềm phủ lên còn sót lại trên ruộng, trên nương, trên bãi bị mưa rào dội xuống lộ ra trắng ngà. Ruộng lạc trên cánh đồng “Kẻ Sét” lại là nơi nhiều “lạc xói” nhất. Gọi là Kẻ Sét vì cánh đồng này nằm bên bờ sông Phố được bao quanh bởi các dãy núi Vằng (có tên chữ là Kim Sơn, tức núi Vàng, nhưng dân vẫn gọi là rú Vằng), rú Tháp, rú Bút, rú Mồng Gà nên hay bị sét đánh. Mưa sau mùa nhổ lạc thường kèm sấm, sét, chớp giật đùng đòang, chớp roi cày, sét lưỡi rìu nhoang nhoáng, hơi đất bốc lên ngùn ngụt, nhưng chúng tôi chẳng biết sợ là gì.
Khác với mùa bửa cau, mùa đi củi cháy hay mùa tát ao đi hôi cá, mùa ngược ngàn… mùa đi mót của chúng tôi gần như diễn ra quanh năm, lúc nào cũng có cái để mà đi mót cả. Rồi những tháng năm vật lộn với cuộc sống cũng qua đi, nhưng những kỉ niệm đi mót ngày mùa vẫn còn mãi như là một niềm tự hào về sự trải nghiệm cuộc đời mà dễ gì nào ai cũng có được.


#289255 Tản mạn về ngôn ngữ địa phương Hà Tĩnh

Posted by Tống Trần Tùng trong 04:44PM, 31-10-2011

Thân gửi bạn Khùng!
Tôi rất vui sướng và xin cảm ơn bạn đã quan tâm đến bài viết về phương ngữ Hà Tĩnh của tôi cũng như xin cảm ơn bạn nganphoansi đã post bài viết này lên diễn đàn của trường THPT Hương Sơn. Tôi hoàn toàn đồng ý với đề nghị của bạn khi thêm câu: “Vậy mà…” vào đoạn nói về “nhà văn người Hà Tĩnh khá nổi tiếng nọ” để khẳng định ngay chủ thể của câu sau tránh hiểu nhầm nhà văn nọ là Lê Quý Đôn. Tuy vậy, tôi cũng xin cảm ơn bạn nganphoansi đã giải thích hộ tôi khi nhấn mạnh từ “nọ” ở đây để thấy rằng nếu ngẫm nghĩ kỹ thì cũng không có chuyện hiểu nhầm như vậy.
Vấn đề nằm ở chỗ từ “ló ngô”. Tôi là người Hương Sơn và người Hương Sơn gọi ngô là “lồ ngô” hay “lò ngô” và tôi cho rằng đó là khẩu ngữ để chỉ riêng “ló ngô” chứ không phải bao hàm hai loại ngũ cốc là lúa và ngô trong cụm từ “ló ngô khoai sắn”. Tôi tạm viết là “lồ ngô” mặc dầu với cách viết này, chữ “lồ” cũng chưa lột tả được cách phát âm của người Hương Sơn quê tôi đối với từ này. Bạn có thấy thường thì người Hà Tĩnh khi nói nhanh, có nhiều từ, nhất là từ kép hay từ láy, không được phát âm rõ ràng ra, mà nó nằm trong cuống họng, hoặc nếu phát âm ra thì hay sử dụng thanh bằng và nói lướt qua khá nhanh. Ló lòn (lúa tẻ) cũng là một ví dụ. Thực ra khi phát âm từ này, người Hà Tĩnh nói thành “lò lòn”. Tôi thấy khó mà phiên âm chính xác được những phương ngữ loại này bằng cách dùng các chữ cái và 6 dấu thanh của tiếng Việt theo quy tắc viết hiện nay, kể cả những từ như khôông, eng, hoọc v.v. Đấy là chưa kể đến việc âm sắc biến đổi theo từng vùng miền có khi đến mức, nhiều từ ngay cả người trong cùng một làng xã cũng rất khó nghe. Chẳng thế mà ở các làng thuộc tổng An Ấp trước đây thuộc vùng hạ Hương Sơn nằm bên tả ngạn sông Phố có câu ca dao: “Kè Đọng nòi giọng khò nghe, Kè E nòi choẹt bè le dìa đèn” (Kẻ biến thành Kè, nói biến thành nòi, khó biến thành khò, dĩa đèn thành dìa đèn, dĩa đèn là cái đĩa đựng dầu của cái đèn cổ thắp bằng dầu trảo, dầu bùi hay dầu lạc trước đây. Câu thơ của Nguyễn Xuân Sanh: “Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà” chính là nói đến đáy của cái đĩa đèn này). Có nhiều dấu thanh thực ra không tồn tại hoặc tồn tại theo kiểu khác trong phương ngữ Hà Tĩnh, chứ không phải là họ không phát âm được dấu thanh đó.
Xin được quay lại với chuyện nhà văn nọ. Người ta thường cho rằng nhà văn, nhà thơ là bậc thầy với những con chữ. Theo như suy nghĩ chủ quan của tôi thì nhà văn người Hà Tĩnh khá nổi tiếng nọ tuy đã lớn lên trên đất Hương Sơn nhưng đáng tiếc là đã không để ý đến hai từ “lồ ngô” của quê mình. Nếu quan tâm đến từ này thì ông ta có thể thấy được “lồ ngô” “ló ngô”, là một thứ lúa đem từ bên Ngô, Tàu sang và tiếp đó sẽ là câu hỏi được hình thành một cách tự nhiên là thứ lúa này được đem từ Ngô Tàu sang nước ta vào thời gian nào. Đến đây mới xuất hiện vấn đề kiến thức “về lịch sử, nguồn gốc văn hóa, nguồn gốc lịch sử của cây ngô” như bạn đã viết. Như vậy, cái gốc gác của sự đáng tiếc đối với “nhà văn người Hà Tĩnh khá nổi tiếng nọ” là ông ta chưa có sự thấu hiểu ngôn ngữ nơi chôn rau cắt rốn của mình xung quanh từ “lồ ngô” để từ đó đi đến việc tìm hiểu kiến thức lịch sử liên quan và tránh được sự phê phán gay gắt của các nhà phê bình khi ông ta tả cảnh phi ngựa giữa cánh đồng ngô ở Thăng Long vào thế kỷ XV. Còn việc giống ngô là do Tiến sĩ Trần Thế Vinh mang về nước đã được học giả Lê Quý Đôn ghi lại trong Vân Đài loại ngữ tôi nghĩ là đáng tin cậy hơn. Ngân hàng kiến thức trồng ngô của Viện khoa học nông nghiệp cũng xác nhận điều này. Bài viết của tác giả Dương Duy Ngữ đăng trong tạp chí “Dân tộc” của Ủy ban dân tộc còn kể chi tiết hơn về việc này. Thời nhà Minh, người ta thấy cây ngô giống cây thục thử (cây kê nước Thục, tức là cây cao lương) nên gọi nó là “ngọc thục thử" vì hạt như hạt ngọc. Cũng theo Lê Quý Đôn thì sách Bản thảo cương mục đã tả nó như cây ý dĩ, có râu trắng trên cái bọng giữa cây, bọng nứt thì lòi hạt ra, chi chít sắc vàng, trắng, đen. Lê Quý Đôn đã đặt tên nó là “ Ngô hòa” tức là “ lúa N.



#281318 Tản mạn về ngôn ngữ địa phương Hà Tĩnh

Posted by Tống Trần Tùng trong 09:42AM, 10-09-2011

Tản mạn về ngôn ngữ địa phương Hà Tĩnh




Rất nhiều người Hà Tĩnh khi mới ra Bắc vào Nam, nhất là ra Hà Nội hay vào thành phố Hồ Chí Minh để học tập hoặc lập nghiệp, thường ngượng ngùng, lúng túng trong giao tiếp bởi cái “tiếng Hà Tĩnh nghe buồn cười đáo để” của họ làm cho người được đối thoại nhiều khi không hiểu. Ấy là những người đó khi nói, mới chỉ có giọng nói và ngữ điệu là “Hà Tĩnh”, còn từ dùng thì chủ yếu là từ phổ thông. Còn nếu họ nói “đặc sệt” “tiếng Hà Tĩnh”, tức là cả ngữ điệu và từ dùng đều là ngôn ngữ địa phương, thì chắc rằng người nghe sẽ ngớ ra cứ như nghe một thứ ngôn ngữ không phải là tiếng Việt vậy. Lúng`túng là chuyện thường tình khi mà giao tiếp không suôn sẻ do ngôn ngữ bất đồng. Nhưng liệu có phải ngượng ngùng, xấu hổ đến nỗi cho rằng cái mô tê răng rứa là ngô nghê quê mùa?

Ngôn ngữ nào, kể cả những ngôn ngữ địa phưong có ít nhiều dị biệt so với ngôn ngữ chính thống được sử dụng trong một quốc gia, cũng đều có cái văn hóa riêng của nó. Ngôn ngữ địa phương Hà Tĩnh`nói riêng và tiếng miền trung của các tỉnh khu 4 cũ (Thanh Hoá , Nghệ An, Hà Tĩnh, Qủang Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế) nói chung`cũng vậy. Đấy là chưa kể hiện đang có nhiều nghiên cứu khẳng định, phương ngữ Hà Tĩnh là gốc rễ của tiếng Việt, mới là ngôn ngữ thuần Việt cũng như Việt Thường mới là cái nôi của người Việt cổ, là nơi hình thành Nhà nước đầu tiên của Việt Nam, có kinh đô được xây dựng trên núi Ngàn Hống, tức là dãy Hồng Lĩnh, mà các di chỉ khảo cổ được tìm thấy, các di tích còn lưu giữ trên núi Ngàn Hống có thể chứng minh cho điều đó.

Có thể nói rằng, phương ngữ Hà Tĩnh về mặt cấu trúc, phân chia nhánh ngành, lang lớp, khái niệm bao quát và khái niệm chi tiết v.v. nhiều khi còn khoa học hơn cả ngôn ngữ phổ thông mà ta đang sử dụng. Xin lấy một ví dụ. Nếu nói “khoai” theo tiếng phổ thông thì người ngoài Bắc chỉ hiểu là khoai lang hoặc khoai tây mà thôi. Còn các loại củ ăn được thì kèm luôn tên gọi là “củ từ”, “củ mỡ”, “củ dong riềng”, “củ mài”, .... Còn tiếng Hà Tĩnh thì phân chia rõ ràng hơn. Cây gì có rễ phình to thì cái rễ đó được gọi là “cổ”. “Cổ” gì ăn được thì “cổ” đó được gọi là khoai. Rồi mới đến tên riêng và thành ra “cổ khoai từ”, “cổ khoai vạc” (củ mỡ), “cổ khoai đao” ( củ dong riềng), “cổ khoai mài” (củ mài).... “Thương chồng nấu cháo khoai mài...” (ca dao). Như vậy là “cổ” trở thành khái niệm chung, hay nói cách khác thành một loại quán từ ngang hàng với “con” “cái”... làm cho ngôn ngữ phong phú hơn, chính xác hơn, rõ nghĩa hơn. Cũng chính vì thế nên người Hà Tĩnh ít ai gọi “cổ lạc” (củ lạc) mà thường gọi là “trấy lạc” (trái lạc, quả lạc). Tương tự là từ “ló” (lúa) để rồi có ló kê, ló ré (lúa`tẻ), ló nếp, ló ngô (ngô).... hay “bù” để rồi phân biệt bù ta (bầu), bù rợ (bí đỏ)..... Chưa kể là qua cách gọi có tính chất phân loại lang lớp một cách khoa học này, ta còn có thể biết được ló ngô (ngô, bắp) không phải là loại ngũ cốc bản địa từ xưa mà sau này mới được di thực từ bên Ngô Tàu sang. Mà đúng là như vậy. Học giả Lê Quí Đôn trong tác phẩm “Vân Đài loại ngữ” cho biết: “Hồi đầu đời Khang Hi (1662 – 1723), Trần Thế Vinh, người huyện Tiên Phong, Sơn Tây, sang sứ nhà Thanh, mới lấy giống lúa ngô đem về nước”. Giá như nhà văn người Hà Tĩnh khá nổi tiếng nọ thấu hiểu hơn ngôn ngữ nơi chôn rau cắt rốn của mình thì sẽ không đến nỗi lại hạ bút tả cảnh phi ngựa giữa bãi ngô trong cuốn tiểu thuyết lịch sử viết về Thăng Long ở thế kỷ XV để cho nhiều độc giả, nhiều nhà phê bình lên tiếng phê phán gay gắt. Còn nữa. Bù rợ (bí đỏ) cũng xuất hiện trên mảnh đất Cửu Đức, mảnh đất Hà Tĩnh sau bù ta (bầu), mà qua tên gọi phải là từ một nước láng giềng nào đó ở phía Tây hoặc Tây Nam nước ta. Nhưng người ngoài Bắc lại gọi bí đỏ là bí ngô, tức là loại bí này có thể được di thực từ bên Trung Hoa sang. Khả năng thứ nhất chắc sẽ thuyết phục hơn, nhưng khả năng nào là đúng thì chỉ có các nhà khoa học nghiên cứu về các loại thực vật mới khẳng định được. Tuy vậy, “bù rợ” và “bí ngô’ cũng có khác nhau chút ít. Bí ngô có hình thù hơi dài hoặc hình cầu, còn “bù rợ” có hình thù hơi dẹt , tại chỗ cuống và trôn quả thường lõm vào.

Đấy là chưa kể rât nhiều tên gọi các lọai nông cụ, công cụ, các đồ dùng thường ngày… của phương ngữ Hà Tĩnh phong phú hơn nhiều và ít vay mượn các từ Hán - Việt hơn so với ngôn ngữ phổ thông. Các dụng cụ đan bằng tre nứa để đựng đồ vật là một ví dụ. Để chỉ đồ tre nứa đan thưa dùng để đựng các loại rau, củ, quả thì tiếng phổ thông chỉ có vài danh từ là “giành”, “rổ”, trong khi phương ngữ Hà Tĩnh nói riêng và của đất Việt Thường nói chung có rất nhiều danh từ để chỉ chúng tùy thuộc vào hình dáng, kích cỡ, sức chưá, mắt đan thưa hay mau, kiểu đan lồng mốt, lồng đôi hay lồng ba v.v. như “giành”, “ky”, “đúa”, “sảo”, “cạo” “rổ” v.v. Còn để chỉ các dụng cụ đan bằng tre nứa có mặt phẳng lớn hơn nhiều so với chiều cao của thành để chứa, đựng thì tiếng phổ thông chỉ có “nong, nia” chung chung, còn phương ngữ Hà Tĩnh lại phân ra cụ thể hơn như “vựa” (được đan ken dày, đường kính lớn trên dưới 1 mét, thành cao vài ba chục phân dùng để đặt ngay dưới cối xay lúa để nhận sản phẩm lúa đã xay nhưng chưa được sàng sảy hoặc dùng để chứa thóc lúa khi chưa được phơi khô, quạt sạch nên chưa được cất giữ vào bồ), “nôống” (gồm nôống nậy là cái nong lớn, nôống con có kích thước nhỏ hơn, nôống gấm dùng để sảy lúa, gạo, nôống sưa là cái nong được đan thưa dùng để phơi khoai, sắn cắt lát cho chóng khô), “ránh” cũng là nong đan thưa nhưng mắt lỗ bé hơn so với nôống sưa nhưng chỉ để dùng phơi cau đã bửa làm cau khô v.v. Từ cổ “vựa” chỉ một đồ đựng bằng tre đan nói trên về sau đã được sử dụng để chỉ những nơi chốn, những vùng và cả những khu vực rộng lớn với sản phẩm đặc trưng như “vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long”, “vựa trái cây miệt vườn Tiền Giang” v.v.

Xin được kể hơi cà kê một chút như vậy để thấy rằng cái mô tê răng rứa của tiếng địa phương Hà Tĩnh là một di sản văn hóa đậm đà bản sắc của ngôn ngữ Việt đáng được trân trọng, tìm hiểu và gìn giữ để không bị mai một trong quá trình “phổ thông hóa, toàn cầu hóa” làm ảnh hưởng đến sự phong phú đa dạng của văn hóa Việt.

Cái sự học trong các bậc phổ thông ngày càng phổ cập với mọi tầng lớp, thành quả của sự nghiệp giáo dục kể từ ngày đất nước độc lập, cũng như sự phổ cập của các phương tiện thông tin đại chúng đã không những giúp cho chỉ đối với những người Hà Tĩnh từng cắp sách đến trường, mà còn giúp cho mọi người dân Hà Tĩnh dù sống ở những vùng miền heo hút nhất đều sử dụng thành thục được tiếng Việt hiện đại trong mọi lĩnh vực. Tuy vậy, cũng chính vì thế mà ngày càng có nhiều người Hà Tĩnh biết rất ít vốn từ của ngôn ngữ địa phương mình, và do đó, nguy cơ mai một của phương ngữ Hà Tĩnh ngày càng rõ. Có những ngôn từ có thể nói là rất “đắt”, “độc nhất vô nhị” nhưng lại đang dần bị biến mất trong đời sống của chính người dân Hà Tĩnh. Ví dụ như động từ “trủ” chỉ công việc thu hái hàng loạt và bằng hết cùng một lúc các loại quả của những cây ăn quả (trủ vải, trủ nhãn, trủ cam...) hay danh từ “lặc lè” chỉ phần mặt sau của đầu gối (có thành ngữ “trục cúi đi mô lặc lè theo đó”, trục cúi chính là đầu gối) hay danh từ riêng “tấy” để chỉ con rái cá, còn gọi là hải ly, với câu thành ngữ “nghịch nhi tấy, khun nhi tấy” (nghịch như rái cá, khôn như rái cá) v.v và v.v

Do vậy, đã đến lúc cần tổ chức sưu tầm, nghiên cứu và biên soạn một bộ Từ điển phương ngữ Hà Tĩnh nhằm gìn giữ và bảo tồn di sản này. Cùng với các di chỉ khảo cổ, các văn bia, các bằng sắc, các ấn phẩm v. v. thì ngôn ngữ địa phương, nhất là các ngôn ngữ cổ cũng là những chứng tích, những căn cứ khoa học vô cùng quan trọng cho việc nghiên cứu lịch sử nói riêng và các bộ môn khoa học xã hội nói chung.



TEXT LINK:
- Nhạc vàng