Đến nội dung

Tống Trần Tùng

Đăng ký: 09-08-2007
Offline Đăng nhập: 09:11PM, 11-04-2016
-----

Bài viết của tôi gửi

Trong chủ đề: Tản mạn về ngôn ngữ địa phương Hà Tĩnh

04:44PM, 31-10-2011

Thân gửi bạn Khùng!
Tôi rất vui sướng và xin cảm ơn bạn đã quan tâm đến bài viết về phương ngữ Hà Tĩnh của tôi cũng như xin cảm ơn bạn nganphoansi đã post bài viết này lên diễn đàn của trường THPT Hương Sơn. Tôi hoàn toàn đồng ý với đề nghị của bạn khi thêm câu: “Vậy mà…” vào đoạn nói về “nhà văn người Hà Tĩnh khá nổi tiếng nọ” để khẳng định ngay chủ thể của câu sau tránh hiểu nhầm nhà văn nọ là Lê Quý Đôn. Tuy vậy, tôi cũng xin cảm ơn bạn nganphoansi đã giải thích hộ tôi khi nhấn mạnh từ “nọ” ở đây để thấy rằng nếu ngẫm nghĩ kỹ thì cũng không có chuyện hiểu nhầm như vậy.
Vấn đề nằm ở chỗ từ “ló ngô”. Tôi là người Hương Sơn và người Hương Sơn gọi ngô là “lồ ngô” hay “lò ngô” và tôi cho rằng đó là khẩu ngữ để chỉ riêng “ló ngô” chứ không phải bao hàm hai loại ngũ cốc là lúa và ngô trong cụm từ “ló ngô khoai sắn”. Tôi tạm viết là “lồ ngô” mặc dầu với cách viết này, chữ “lồ” cũng chưa lột tả được cách phát âm của người Hương Sơn quê tôi đối với từ này. Bạn có thấy thường thì người Hà Tĩnh khi nói nhanh, có nhiều từ, nhất là từ kép hay từ láy, không được phát âm rõ ràng ra, mà nó nằm trong cuống họng, hoặc nếu phát âm ra thì hay sử dụng thanh bằng và nói lướt qua khá nhanh. Ló lòn (lúa tẻ) cũng là một ví dụ. Thực ra khi phát âm từ này, người Hà Tĩnh nói thành “lò lòn”. Tôi thấy khó mà phiên âm chính xác được những phương ngữ loại này bằng cách dùng các chữ cái và 6 dấu thanh của tiếng Việt theo quy tắc viết hiện nay, kể cả những từ như khôông, eng, hoọc v.v. Đấy là chưa kể đến việc âm sắc biến đổi theo từng vùng miền có khi đến mức, nhiều từ ngay cả người trong cùng một làng xã cũng rất khó nghe. Chẳng thế mà ở các làng thuộc tổng An Ấp trước đây thuộc vùng hạ Hương Sơn nằm bên tả ngạn sông Phố có câu ca dao: “Kè Đọng nòi giọng khò nghe, Kè E nòi choẹt bè le dìa đèn” (Kẻ biến thành Kè, nói biến thành nòi, khó biến thành khò, dĩa đèn thành dìa đèn, dĩa đèn là cái đĩa đựng dầu của cái đèn cổ thắp bằng dầu trảo, dầu bùi hay dầu lạc trước đây. Câu thơ của Nguyễn Xuân Sanh: “Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà” chính là nói đến đáy của cái đĩa đèn này). Có nhiều dấu thanh thực ra không tồn tại hoặc tồn tại theo kiểu khác trong phương ngữ Hà Tĩnh, chứ không phải là họ không phát âm được dấu thanh đó.
Xin được quay lại với chuyện nhà văn nọ. Người ta thường cho rằng nhà văn, nhà thơ là bậc thầy với những con chữ. Theo như suy nghĩ chủ quan của tôi thì nhà văn người Hà Tĩnh khá nổi tiếng nọ tuy đã lớn lên trên đất Hương Sơn nhưng đáng tiếc là đã không để ý đến hai từ “lồ ngô” của quê mình. Nếu quan tâm đến từ này thì ông ta có thể thấy được “lồ ngô” “ló ngô”, là một thứ lúa đem từ bên Ngô, Tàu sang và tiếp đó sẽ là câu hỏi được hình thành một cách tự nhiên là thứ lúa này được đem từ Ngô Tàu sang nước ta vào thời gian nào. Đến đây mới xuất hiện vấn đề kiến thức “về lịch sử, nguồn gốc văn hóa, nguồn gốc lịch sử của cây ngô” như bạn đã viết. Như vậy, cái gốc gác của sự đáng tiếc đối với “nhà văn người Hà Tĩnh khá nổi tiếng nọ” là ông ta chưa có sự thấu hiểu ngôn ngữ nơi chôn rau cắt rốn của mình xung quanh từ “lồ ngô” để từ đó đi đến việc tìm hiểu kiến thức lịch sử liên quan và tránh được sự phê phán gay gắt của các nhà phê bình khi ông ta tả cảnh phi ngựa giữa cánh đồng ngô ở Thăng Long vào thế kỷ XV. Còn việc giống ngô là do Tiến sĩ Trần Thế Vinh mang về nước đã được học giả Lê Quý Đôn ghi lại trong Vân Đài loại ngữ tôi nghĩ là đáng tin cậy hơn. Ngân hàng kiến thức trồng ngô của Viện khoa học nông nghiệp cũng xác nhận điều này. Bài viết của tác giả Dương Duy Ngữ đăng trong tạp chí “Dân tộc” của Ủy ban dân tộc còn kể chi tiết hơn về việc này. Thời nhà Minh, người ta thấy cây ngô giống cây thục thử (cây kê nước Thục, tức là cây cao lương) nên gọi nó là “ngọc thục thử" vì hạt như hạt ngọc. Cũng theo Lê Quý Đôn thì sách Bản thảo cương mục đã tả nó như cây ý dĩ, có râu trắng trên cái bọng giữa cây, bọng nứt thì lòi hạt ra, chi chít sắc vàng, trắng, đen. Lê Quý Đôn đã đặt tên nó là “ Ngô hòa” tức là “ lúa N.

Trong chủ đề: Về chợ Gôi

09:47AM, 19-01-2010

Xin được bổ sung thêm vài nét về lễ tế thần ở đìnhchợ Gôi trước đây để mọi người trao đổi thêm. Chợ Gôi ở Sơn Hoà là một chợ cổ, họp vào ngày lẻ theo âm lịch, là một chợ sầm uất và nổi tiếng của vùng này với các sản vật như cau, trầu, chè mít, thịt dê thui và các loại bánh kẹo đặc sản như kẹo lạc nấu bằng mật mía Văn Giang nổi tiếng, bánh gói ấp làm bằng bột gạo ré đỏ, bánh phỏng bằng bột nếp rồng v. v. Chợ Gôi đã được ghi nhận từ xa xưa qua một câu đối cổ được ghép bằng tên các chợ nổi tiếng trong các huyện Đức Thọ, Hương Sơn và Nam Đàn trước đây là:
Thượng, Hạ, Gôi, Choi, Nầm, Trị, Phố,
Trăn, Tro, Sáo, Vực, Liễu, Rồng, Đồn.
Trong 14 chợ mà câu đối cổ này nhắc đến thì chợ Rồng ở Trung Cần, Nam Trung, Nam Đàn và chợ Gôi ở Sơn Hoà, Hương Sơn đều có nhiều di tích liên quan đến Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng.
Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, tại chợ Gôi có một ngôi đình lớn là nơi tế thần của cả tổng An Ấp. Hàng năm vào rằm tháng giêng âm lịch, các vị thần bao gồm cả thiên thần và nhân thần được thờ trong các đền miếu của các làng trong tổng An Ấp, gồm cả 6 xã hiện nay, được các chức sắc cùng nhân dân các làng với mũ áo tề chỉnh, long trọng kiệu rước bằng cả đường thuỷ trên sông Ngạn Phố và bằng đường bộ về đình chợ Gôi để tổ chức tế lễ. Hàng chục vị thần được thờ phụng ở các đền miếu và các nhà thờ họ Tống, họ Trần v.v. ở làng Văn Giang, đền Bạch Vân, nhà thờ họ Lê, họ Nguyễn Xuân v.v. ở làng Thịnh Xá, đền Gôi Mỹ, nhà Thánh, nhà thờ họ Đinh Nho, họ Nguyễn Khắc v.v. ở làng Gôi Mỹ, đền Bình Hoà, đền Xuân Lưu, nhà thờ họ Tống, họ Hà, họ Phan v.v. ở làng Bình Hoà, đền Xuân Trì, nhà thờ họ Lê, họ Nguyễn ở Kẻ E, đền Yên Bài ở làng Yên Bài, đền Kim Qui thờ Nguyễn Tuấn Thiện ở làng Ninh Xá, đền Thọ Lộc ở làng Thọ Lộc v.v. đều được rước về đình chợ Gôi. Trong các vị nhân thần được kiệu rước và tế lễ ở đình chợ Gôi trước đây, người ta thường kể nhiều về bà Tiết phụ. Theo Đại Nam nhất thống chí thì nữ thần vốn là bà Phan Thị Viên, làm thiếp của Tiến sĩ Đinh Nho Hoàn người làng Gôi Mỹ lúc bà mới 16 tuổi. Năm Ất Mùi (1715), Lại bộ Hữu thị Lang, Thượng bảo Tự Khanh Đinh Nho Hoàn được cử làm phó sứ trong sứ bộ sang nhà Thanh, không may lâm bệnh chết dọc đường. Khi quan tài đưa về đến làng Gôi Mỹ, bà Phan Thị Viên thắt cổ chết theo chồng. Triều đình phong tặng bà là Á Thuận Phu nhân, cho lập đền thờ và ban cho biển ngạch Tiết phụ và 20 mẫu ruộng cho việc thờ tự. Các nhân thần khác có công với nước như Khai quốc công thần nhà Lê Nguyễn Tuấn Thiện, Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng, Thượng bảo Tự khanh Đinh Nho Hoàn v.v. đều được rước về đình chợ Gôi tế lễ.
Lễ vật quan trọng nhất là một con bò mộng được thui chín bằng lửa của rơm rạ và những bó nứa khô được các tráng đinh lực lưỡng quạt cháy rực lên. Người ta dùng dao sắc lách và cắt ở vùng bụng và ở gần đùi sau của con bò ra một khoanh thịt có bề rộng khoảng 3 đốt ngón tay, sao cho khoanh thịt vừa có đủ bì ở phía ngoài và đủ dài để quấn vòng quanh ở khoảng giữa thân con bò, ôm lấy con bò từ trên lưng xuống bụng như một cái đai. Sau lễ tế thần, cái đai nói trên được cắt thành những miếng thịt bò hình vuông. Đây là phần cỗ quí nhất mà chỉ có các bậc tiên chỉ, các bậc chức sắc có phẩm trật nhất định theo qui định của hàng tổng mới được chia phần. Chưa rõ tục lệ này ở đây mang ý nghĩa như thế nào, nhưng khi nghe các bậc cao niên kể lại, chúng tôi thường liên tưởng đến câu chuyện trong tác phẩm “Việc làng” của Ngô Tất Tố. Chỉ khác một bên là cái đầu gà được chặt thành những miếng đều nhau và mỏng như tờ giấy, còn đây là những miếng thịt bò thui có đủ cả bì, cả thịt, hình vuông, mỗi chiều chỉ bằng vài ba đốt ngón tay. Xem ra thì việc làng ở các vùng miền khác nhau cũng có những nét văn hóa khác nhau. Hiện nay ở xã Sơn Hòa, các đền Bình Hòa, Chợ Gôi và nhà Thánh không còn mà chỉ còn lại đền Gôi Mỹ. Tuy vậy, còn một tấm bia đá ghi danh các nhà khoa bảng của hai làng Bình Hòa và Gôi Mỹ, trong đó có tên của Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng vẫn còn được lưu giữ.



Trong chủ đề: Xơ mít đây

09:19AM, 13-08-2007

Gửi thành viên huongkhê
Nếu nhi o, cụng như nhiều ngài khác trên diện đàn ni, muốn viết bằng tiếng Hà Tịnh nhà mềng thì nên viết rành bằng tiếng nhà mềng, chơ trộn lộn lạo cả tiếng phổ thông với tiếng Hà Tịnh nhà mềng thì đọc nghe cứ ngàng ngang na năng a. Ngôn ngự mô cụng có cấy văn hóa riêng của hắn. Tui cụng xin nói thêm là nưng có nhiều nghiên cứu khẳng định phương ngự Hà Tịnh là côộc rệ của tiếng Việt, cụng như Việt Thường mới là cấy nôi của ngài Việt, là nơi hình thành Nhà nước đầu tiên của Việt Nam, có kinh đô được xây dựng trên rú Ngàn Hống mà các di chỉ khảo cổ, các di tích còn lưu dự trên rú Ngàn Hống có thể chứng minh cho cấy ni. Hơn nựa, phương ngự Hà Tịnh về mặt cấu trúc, phân chia nhánh ngành, lang lớp, khái niệm bao quát và khái niệm chi tiết v.v. nhiều khi còn khoa học hơn cả ngôn ngự phổ thông mà ta đang sử dụng. Xin lấy một ví dụ. Nếu nói “khoai” theo tiếng phổ thông thì ngài ngoài Bắc chỉ hiểu là khoai lang hoặc khoai tây mà thôi. Còn các loại cổ ăn được thì kèm luôn tên gọi là “củ từ”, “củ mỡ”, “củ dong riềng”, “củ mài”, .... Còn tiếng Hà Tịnh thì phân chia rọ ràng hơn. Cơn chi có rệ phình to thì cấy rệ nớ là cổ. Cổ chi ăn được thì cổ nớ là khoai. Rồi mới đến tên riêng và thành ra “cổ khoai từ, cổ khoai vạc, cổ khoai đao, cổ khoai mài”.... (Thương nhôông nấu cháo khoai mài, nhôông ăn một đọi .... dài thước năm.). Ra rứa là “cổ” trở thành một loại quán từ ngang hàng với “con” “cái”... làm cho ngôn ngự phong phú hơn, chính xác hơn, rọ nghịa hơn. Tương tự là từ “ló” để rồi có ló kê, ló lòn, ló nếp, ló ngô.... hay “bù” để rồi phân biệt bù ta, bù rợ..... Chưa kể là qua cách gọi rất khoa học ni, ta còn có thể biết được ló ngô (ngô, bắp) không phải là loại ngụ cốc bản địa từ xưa mà sau này mới được di thực từ bên Ngô (thời Tam quốc của Trung hoa) sang, còn bù rợ (bí đỏ) cũng xuất hiện trên mảnh đất Cửu Đức, mảnh đất Hà Tịnh sau bù ta, mà cũng không phải được di thực từ Trung Hoa sang mà phải là từ một nước hàng xóm mô đó. Tui kể hơi cà kê một đích để thấy rằng cấy mô tê răng rứa của Hà Tịnh nhà mềng là một di sản văn hóa đậm đà bản sắc của ngôn ngự Việt mà bày mềng cần phải tự hào, cần phải tìm hiểu và dự gìn để cấy phương ngự ni không bị mất đi trong quá trình “phổ thông hóa, toàn cầu hóa” làm ảnh hưởng đế cấy phong phú đa dạng của văn hóa Việt. Tui có một đề nghị nhỏ là nên chăng, trên diện đàn Hà Tịnh ni, bày mềng thử cố viết chỉ bằng phương ngự Hà Tịnh, khung biết có được khôông? Mà ra rứa thì cấy đoạn viết của thành viên huongkhê nên chựa thành ra ri:
“Tui là cân gấy chơ khung phải là thằng mô mà kêu tui là ôông nha. mẹ ơi! con bị đổi giôống...
Nhưng mà khung can chi mô, có lẹ tại mấy ngài khung biết. Tui tha cho. Còn tui đến tháng 9 mới có thể thi tốt nghiệp rồi mới về nhà đựơc. Lâu rồi khung dược ăn mít chín, lấy mô ra mà nói ăn nhiều nóng hè? Đúng là ..... bựa mô tui về mời eng em đến nhởi nhà tui nha. Có cấy là hại HƯƠNG KHÊ nhà tui ngái quá khung biết có ai chiu đi khôông nựa. Năng mà nghe mơ hồ ra rứa khung biết....”
Nếu tui viết có cấy chi khung phải thì cụng mong các bà các ôông, các chị các eng tha cho nha.

Trong chủ đề: Về bài thơ Đăng Động chủ sơn của La Sơn Phu tử

09:33PM, 11-08-2007

Xin được cảm ơn sự chia sẻ và động viên của thành viên Ganthachha. Tôi cũng xin được mọi thành viên tha thứ cho việc tôi đã viết thư cho thành viên huongkhe không phai bằng tiếng Việt trên diễn đàn này. Chẳng qua cũng là bất đắc dĩ. Tôi cũng xin nói thêm là tôi viết bài báo vừa rồi là mong muốn góp ý cho các tác giả của các cuốn sách "Nam Đàn quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh", "Nam Đàn xưa và nay" khi trích dẫn hoặc hạ bút viết một vấn đề nào đó thì cần cẩn trọng hơn để cho lần xuất bản sau tránh dược những sai sót nhầm lẫn không đáng có. Mặt khác, qua bài viết, tôi cũng mong dược giới thiệu với mọi người một bài thơ của La Sơn Phu tử mà trong tác phẩm của mình, cụ Hoàng Xuân Hãn chưa đề cập đến, để mọi người có thể hình dung thêm đối với La Sơn Phu tử, người con kiệt xuất, rất đổi tự hào của Hà Tĩnh nói riêng và của lịch sử Việt Nam nói chung.

Trong chủ đề: Về bài thơ Đăng Động chủ sơn của La Sơn Phu tử

08:32AM, 10-08-2007

Sehr geehrter huongkhe Miglieder!
Bemuehen Sie sich biete, den Artickel zu verstehen. Hinter der Inhalt meines Schreiben gibt so was genug zu begreifen und zu erfahren. Wenn Sie irgendwas noch Fragen hatten, rufen Sie mich biete an. Ich stelle fuer Sie immer zur Verfuegung. Trotzt alle dem danke ich Ihnen sehr, dass Sie mein Schreiben gelesen haben. Mit Achtungsvoll von mir


TEXT LINK:
- Nhạc vàng