Đến nội dung







Hình ảnh

Phan Huy Lê


  • Please log in to reply
4 replies to this topic

#1 giolaodatme (Gửi lúc 02:27PM, 07-08-2007 )

    :: Hạt phù sa nhỏ bé ::

  • Thành Viên Danh Dự
  • PipPipPipPip
  • Bài viết: 562

Giáo sư sử học, Nhà giáo Nhân dân PHAN HUY LÊ



Thân thế

Giáo sư,Nhà giáo Nhân dân Phan Huy Lê (1934–?) là một chuyên gia hàng đầu về lịch sử Việt Nam, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam: Khóa II (1990–1995), khóa III (1995–2000) và khóa IV (2000–2005).

Ông sinh ngày 23 tháng 2 năm 1934 tại xã Thạch Châu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh, Việt Nam.
Ông là hậu duệ của Thượng thư, nhà ngoại giao Phan Huy Ích, nhà bác học Phan Huy Chú, Thượng thư - nhà văn hóa Phan Huy Vịnh.
Thân sinh là Tiến sĩ Phan Huy Tùng (khoa Quý Sửu - năm 1913), một đại thần triều Nguyễn.
Mẹ ông là người dòng họ Cao Xuân giàu truyền thống khoa bảng với các danh nhân: Cao Xuân Dục, Cao Xuân Tiếu, Cao Xuân Huy.

Các danh hiệu được phong tặng


Ông được Nhà nước phong hàm giáo sư đợt đầu tiên (năm 1980); danh hiệu Nhà giáo Nhân dân (năm 1994); giải thưởng nhà nước (năm 2000).
Ông là người Việt Nam đầu tiên được Nhật Bản trao tặng Giải thưởng quốc tế văn hóa châu Á Fukuoka (năm 1996).
Năm 2002, ông được Chính phủ Pháp trao tặng Huân chương Cành cọ Hàn lâm.

Các Tác phẩm

* Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ
* Đặc điểm của phong trào nông dân Tây Sơn
* "Khởi nghĩa Lam Sơn"
* Truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam
* Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc
* Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 và 1288.
* Truyền thống và cách mạng
* "Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay" (3 tập)
* Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, truyền thống và hiện đại
* Lịch sử Việt Nam từ 1406 đến 1858
* "Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam" tập II (1960)
* "Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam" tập III (1961)
* "Lịch sử Việt Nam" tập I (đồng tác giả với Trần Quốc Vượng}
* "Lịch sử Việt Nam" 4 tập (chủ biên, tác giả chính của 2 tập I và II}
* Tìm về cội nguồn (2 tập)

nguồn : Bách khoa Toàn thư mở

Facebook Comments

#2 giolaodatme (Gửi lúc 02:32PM, 07-08-2007 )

    :: Hạt phù sa nhỏ bé ::

  • Thành Viên Danh Dự
  • PipPipPipPip
  • Bài viết: 562

GS SỬ HỌC, NHÀ GIÁO NHÂN DÂN PHAN HUY LÊ

Giáo sư – Nhà giáo nhân dân Phan Huy Lê sinh ngày 23-2-1934 tại xã Thạch Châu, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Xuất thân trong một gia đình mà dòng họ nội, ngoại đều có truyền thống khoa bảng và danh tiếng với những Phan uy Cẩn, Phan Huy Ích, Phan Huy Chú, Phan Huy Tùng v.v… và Cao Xuân Dục, Cao Xuân Tiếu, Cao Xuân Huy v.v…, ngay từ nhỏ cậu học sinh Phan Huy Lê đã bộc lộ một trí thông minh hơn người. Anh học xuất sắc ở tất cả các môn, đặc biệt là các môn khoa học tự nhiên. Từ năm 1952 đến 1954, Phan Huy Lê học dự bị đại học tại Thanh Hóa. từ năm 1954 đến 1956 Ông học Đại học văn khoa Hà Nội. Khi vào đại học, Ông có nguyện vọng theo học ngành toán – lý, nhưng “bị” Giáo sư Trần Văn Giàu “bắt” vào học sử – địa. Cùng chung “cảnh ngộ” với Ông là hai người bạn Trần Qốc Vượng (thích toán – lý) và Đinh Xuân Lâm (thích văn chương). Thật may mắn cho nền sử học nước nhà, bởi cả 3 ông sau này đã trở thành những nhà sử học lỗi lạc của Việt Nam… Sau khi tốt nghiệp cử nhân sử – địa, bộ ba Vượng – Lê – Lâm chiếm bảng “Tam khôi” nên được giữ lại Khoa sử làm “trợ lý tập sự”. Năm 1957, bộ ba này được bổ sung thêm một sinh viên vừa tốt nghiệp đại học xuất sắc: Hà Văn Tấn, để sau này trở thành “Bộ tứ huyền thoại” của sử học Việt Nam.
Ngay sau khi được giữ lại Khoa sử làm “trợ lý tập sự”, một phần do thiếu giáo viên, một phần do cách đào tạo “phải đẩy xuống nước thì mới biết bơi” của Giáo sư Chủ nhhiệm khoa Trần Văn Giàu, nên thầy giáo trẻ Phan Huy Lê và cả “bộ tứ: đã phải đảm nhận nhiệm vụ vừa giảng dạy vừa nghiên cứu. Năm 1958, Giáo sư Đào Duy Anh chuyển công tác khác, thầy Phan Huy Lê đảm nhiệm chức vụ Chủ nhiệm Bộ môn lịch sử Việt Nam cổ – trung đại khivừa tròn 24 tuổi và liên tụ cgiữ trọng trách này trong 30 năm. Từ quan niệm: “Muốn giảng dạy tốt ở bậc đại học thì phải nắm vững chuyên môn và tham gia nghiên cứu khoa học, muốn nghiên cứu khoa học tốt thì phải nắm vững ngoại ngữ”, thầy Phan Huy Lê đã nỗ lực vượt qua rất nhiều khó khăn để hoàn thành tốt những nhiệm vụ tự đặt ra cho mình trong giảng dạy và nghiên cứu. Là Chủ nhiệm Bộ môn, Ông còn giúp đỡ các học trò – đồng nghiệp trẻ một cách tận tình, nghiêm túc và bằng một phương pháp làm việc khoa học, nên tất cả họ đều đã trưởng thành nhanh chóng. Cùng với việc đào tạo trên đại học trong nước, với uy tín của mình, Ông còn tạo điều kiện để các cán bộ trẻ đi học trên đại học ở nước ngoài. Cho đến nay Bộ môn lịch sử Việt Nam cổ – trung đại của Khoa lịch sử là một trong số rất ít các bộ môn của Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội có tất cả các giảg viên đều có học hàm Giáo sư, Phó giáo sư, học vị Tiến sĩ khoa học, Tiến sĩ chuyên ngành, Giáo sư – Nhà giáo nhân dân Phan Đại Doãn đã viết: “Trong hơn 40 năm qua, Giáo sư Phan Huy Lê bằng trí tuệ thông minh, bằng nhân cách đúng đắn, bằng tình cảm thương yêu đồng nghiệp – đồng chí, bằng ý thức đào tạo lớp trẻ, lớp sau, là tấm gương chung, là hạt nhân đoàn kết cho tất cả các thành viên bộ môn v.v… Với tư cách là người thầy chung của cả bộ môn, sự trưởng thành của Bộ môn lịch sử Việt Nam cổ – trung đại có đóng góp to lớn nhất của Giáo sư Phan Huy Lê”.
Hơn 45 năm làm công tác giảng dạy ở bậc đại học và trên đại học, Giáo sư Phan Huy Lê và “bộ tứ” đã cùng các thế hệ thầy cô giáoxây dựng Khoa lịch sử trở thành một trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học lịch sử lớn nhất Việt Nam, với một trường phái riêng: Trường phái sử học tổng hợp! Ông cũng đã cùng với các bạn đồng nghiệp đào tạo cho đất nước hàng nghìn cán bộ sử học, trong đó có nhiều người đang giữ các chức vụ chủ chốt trong các cơ quan nghiên cứu khoa học, văn hóa, giáo dục v.v… ở trung ương và địa phương. Những năm giữa thập kỷ 80, Giáo sư Phan Huy Lê đã đề xuất với lãnh đạo Trường đại học tổng hợp Hà Nội thành lập Trung tâm nghiên cứu và đào tạo về Việt Nam học. Giờ đây Trung tâm nghiên cứu Việt Nam và giao lưu văn hóa do Ông đứng đầu đã thực sự trở thành điểm hẹn quốc tế của các nhà nghiên cứu Việt Nam. Khi Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn thành lập Khoa đông phương học, Giáo sư Phan Huy Lê lại đảm nhận trách nhiệm Chủ nhiệm khoa để góp phần xây dựng và đào tạo một ngành khoa học mới cho đất nước. Nhưng Ông vẫn tâm niệm: “Sẽ cống hiến trọn đời cho Khoa sử”! Ngoài ra, Giáo sư còn thamgia giảng dạy bậc đại học và trên đại học ở nhiều nơi trong cả nước như Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện sử học, Viện khảo cổ học, Đại học văn hóa Hà Nội, Trường viết văn Nguyễn Du, Đại học sư phạm Hà Nội, Đại học khoa học Huế, Đại học khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh đồng thời Ông còn tham gia giảng dạy và đi dự nhiều hội thảo khoa học ở các nước trên thế giới như Pháp, Hà Lan, Đức, Nhật, Mỹ, Trung Quốc v.v…
Là một nhà giáo có những đóng góp lớn lao cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo của đất nước, Giáo sư Phan Huy Lê còn là một nhà sử học nổi tiếng và là chuyên gia đầu ngành về lịch sử Việt Nam cổ – trung đại. Cho đến nay, trừ các bài đăng trên các nhật báo, tuần báo v.v…, Giáo sư đã công bố khoảng 300 công trình khoa học dưới dạng sách, giáo trình và luận văn đăng tải trên các tạp chí khoa học chuyên ngành ở trong và ngoài nước. Trong nghiên cứu khoa học, Giáo sư Phan Huy Lê được các bạn đồng nghiệp và học trò gọi là “sử quan” với hàm ý rằng Ông cũng nghiêm túc như nhữngngười chép sử chính thức của các triều đại trước; đồng thời nhấn mạnh tính tôn trọng sự thật lịch sử, khách quan và trung thực trong nghiên cứu khoa học và trong cuộc sống của Ông.
Năm 1959, khi vừa tròn 25 tuổi, thầy giáo Phan Huy Lê đã xuất bản 4 công trình khoa học: “Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ”, “Lao động làm thuê trong xã hội phong kiến Việt Nam từ thế kỷ XVIII trở về trước”, “Đặc điểm của phong trào nông dân Tây Sơn” và tập bài giảng “Lịch sử Việt Nam (1406 – 1858)”. Sau đó, nhiều công trình khoa học do Ông chủ trì va chủ biên đã được ấn hành, tiêu biểu là: “Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam” (tập II), “Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam” (tập III, chủ trì), “Khởi nghĩa Lam Sơn” (đồng tác giả), “Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc” (đồng tác giả), “Lịch sử Việt Nam” (tập I, chủ trì), “Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay” (chủ biên tập I và II, đồngchủ biên tập III), “Địa bạ Hà Đông” (chủ trì), “Gốm Bát Tràng” (chủ trì), “Địa bạ Thái Bình” (chủ biên), “Tìm về cội nguồn” (2 tập) v.v… Đặc biệt, năm 1981, trong một chuyến công tác ở Pháp, Giáo sư Phan Huy Lê được biết có văn bản bộ “Đại Việt sử ký toàn thư” bản in năm Chính Hòa thứ 18 (1697) là bản in sớm nhất bộ “Quốc sử” của dân tộc còn lại cho đến ngày nay. Sau khi được sự đồng ý và giúp đỡ của phía Pháp, Ông đã sao chụp bản in này đưa về nước và Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam đã tổ chức biên dịch, hiệu đính và công bố một “Di sản văn hóa của dân tộc”!
Với tài năng và uy tín của mình, Giáo sư Phan Huy Lê đã liên tục được bầu làm Chủ tịch Hội khoa học lịch sử Việt Nam ba khóa liền: Khóa II (1990 – 1995), khóa III (1995 – 2000) và khóa IV (2000 – 2005). Ngoài ra, Ông còn đảm nhiệm các chức vụ: Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Việt Nam và giao lưu văn hóa, Phó tổng biên tập Từ điển bách khoa Việt Nam, Phó chủ tịch Hội đồng khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, Phó chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam – Nhật Bản…
Hơn bốn thập kỷ trực tiếp làm công tác giảng dạy, đào tạo và nghiên cứu về khoa học lịch sử, Ông đã cống hiến tất cả tâm huyết, trí tuệ và tài năng cho Tổ quốc, nhân dân và khoa học nước nhà. Để ghi nhận những đóng góp lớn lao đó của Ông, Đảng và Nhà nước đã tặng thưởng Ông nhiều Huân, Huy chương các loại; học hàm Giáo sư đợt đầu tiên (năm 1980); danh hiệu Nhà giáo nhân dân (năm 1994); giải thưởng nhà nước (năm 2000). Trên tầm quốc tế, Ông là người Việt Nam đầu tiên được Nhật Bản trao tặng Giải thưởng quốc tế văn hóa châu Á Fukuoka (năm 1996).
Có thể nói rằng những hoạt động xã hội, khoa học và đào tạo mà Giáo sư – Nhà giáo nhân dân Phan Huy Lê đã và đang cống hiến đã có ảnh hưởng rộng lớn trong đời sống xã hội và văn hóa Việt Nam, hơn thế nữa, còn tạo ra một ảnh hưởng lớn với quốc tế. Ông như một vì sao sáng lấp lánh trên bầu trời về học thuật và nhân cách học giả. Có thể nói, Ông là một trong những nhà giáo – nhà sử học lớn của Việt Nam vào nửa sau của thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI.

Nguồn :

Please Login or Register to see this Hidden Content



#3 giolaodatme (Gửi lúc 02:36PM, 07-08-2007 )

    :: Hạt phù sa nhỏ bé ::

  • Thành Viên Danh Dự
  • PipPipPipPip
  • Bài viết: 562

GS.NGND Phan Huy Lê, một chuyên gia hàng đầu về lịch sử Việt Nam

Giáo sư Phan Huy Lê sinh ngày 23.2.1934 tại xã Thạch Châu, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh - một vùng quê văn hiến của xứ Nghệ, giàu truyền thống yêu nước, cách mạng, trọng tình nghĩa, cần cù và hiếu học.

Cả hai dòng họ nội, ngoại của GS. Phan Huy Lê đều là những dòng họ khoa bảng nổi tiếng với những danh nhân văn hoá lớn như Phan Huy Cẩn, Phan Huy Ích, Phan Huy Thực, Phan Huy Vịnh, Phan Huy Chú, Cao Xuân Dục, Cao Xuân Tiếu, Cao Xuân Huy... Cụ thân sinh là Phan Huy Tùng, tiến sĩ Nho học, từng làm quan trong triều đình Huế, nổi tiếng thanh liêm, phúc đức, nhân hậu, hết mực yêu con, quý cháu.

Phan Huy Lê đã sống trọn những năm tháng tuổi thơ tại quê nhà, thừa hưởng truyền thống gia đình và quê hương, định hình cá tính và nhân cách trước khi hoà nhập vào cuộc sống xã hội. Năm 1952, khi 18 tuổi, ông rời gia đình ra học Dự bị Đại học ở Thanh Hoá và tại đây ông có cơ hội được tiếp xúc với những trí thức cách mạng hàng đầu của đất nước. Vốn là học sinh có năng khiếu và ham mê khoa học tự nhiên, ông dự định chọn Toán - Lý cho tương lai nghề nghiệp của mình, nhưng dường như số phận đã định trước cho ông con đường trở thành nhà Sử học. Ông dự cảm từ trong chiều sâu lịch sử Việt Nam có con đường đi của mình: "Đất nước ta không rộng lớn lắm, lịch sử không để lại những công trình kỳ vĩ như Kim tự tháp, Vạn lý trường thành..., nhưng ông cha ta đã tạo dựng, lưu giữ và truyền lại cho chúng ta và các thế hệ mai sau một di sản thật vô giá với giang sơn tươi đẹp, đa dạng được lao động của con người khai phá, điểm tô; với những trang sử xây dựng và bảo vệ đất nước gian truân, hào hùng; với một kho tàng văn hoá phong phú và những giá trị truyền thống tiêu biểu cho sức sống và bản sắc dân tộc. Đó chính là cội nguồn sức mạnh trường tồn của dân tộc, là nội lực lớn lao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, của công cuộc phục hưng dân tộc. Mỗi khi biết trân trọng, kế thừa và phát huy sức mạnh tiềm tàng đó, dân tộc ta có thể vươn lên đón nhận và hấp thụ mọi tinh hoa của thời đại, của các nền văn minh trong khu vực và trên thế giới mà vẫn giữ vững cốt cách, bản sắc dân tộc". Đất nước hơn lúc nào hết đang cần những người có tâm và đủ tầm đứng ra xây dựng một nền sử học mới. GS. Trần Văn Giàu và GS. Đào Duy Anh là những người đầu tiên nhận ra ở Phan Huy Lê phẩm chất quý giá này và hướng ông vào học Ban Sử - Địa, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

Năm 1956, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội thành lập gồm 4 khoa: Toán - Lý, Hoá - Sinh, Văn và Sử. Phan Huy Lê vừa tốt nghiệp cử nhân Sử - Địa đã được nhận ngay vào Bộ môn Lịch sử Việt Nam cổ trung đại, Khoa Lịch sử dưới sự chỉ dẫn trực tiếp của GS. Đào Duy Anh.

Ngay từ khi còn làm trợ lý giảng dạy, ông đã được các giáo sư Trần Văn Giàu, Đào Duy Anh giao cho viết bài giảng và đảm nhiệm các công việc của những chuyên gia thực thụ. Có lẽ vì thế mà chỉ 2 năm sau, khi GS. Đào Duy Anh chuyển công tác về Viện Sử học, mới 24 tuổi đời, ông đã vững vàng trong trọng trách của một Chủ nhiệm bộ môn đứng mũi chịu sào tổ chức và xây dựng một ngành học giữ vị trí then chốt trong hệ thống các môn học về khoa học xã hội Việt Nam.

Dấn thân vào nghề Sử, Phan Huy Lê càng ngày càng nhận thấy lịch sử Việt Nam ẩn chứa biết bao điều cần khám phá và lý giải một cách khoa học. Con đường để đi đến chân lý lịch sử là con đường phức tạp, quanh co, không một chút giản đơn. Phan Huy Lê quan niệm kinh tế - xã hội là cơ sở nền tảng của toàn bộ lịch sử. Nước ta là một nước nông nghiệp nên nghiên cứu kinh tế - xã hội Việt Nam truyền thống không thể không bắt đầu từ nông thôn, nông nghiệp và nông dân. Điều này giải thích vì sao những ấn phẩm đầu tiên trong sự nghiệp khoa học của ông là "Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ", "Đặc điểm của phong trào nông dân Tây Sơn" và có đến 8 công trình, chiếm một nửa tổng số các công trình của 5 năm đầu bước vào nghề là thuộc về kinh tế - xã hội.

Ông vừa mới tạo lập được vị trí của mình trong nghiên cứu về kinh tế - xã hội thì cũng là lúc đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc. Tự ý thức trách nhiệm công dân phải tham gia vào cuộc chiến đấu của dân tộc, Phan Huy Lê chuyển sang nghiên cứu về các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và những trận đánh lớn trong lịch sử. Ông tổ chức hàng loạt chuyến điều tra khảo sát thực địa tại các vùng chiến trận, không chỉ mở rộng thêm đáng kể nguồn sử liệu để hiểu một cách cụ thể và đa diện các sự kiện lịch sử vốn được ghi chép hết sức cô đọng trong sử cũ, mà còn mở ra một phương hướng nghiên cứu và đào tạo mới, gắn chặt với nhu cầu của đời sống thực tiễn. Những công trình "Khởi nghĩa Lam Sơn"; "Truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam", "Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc", "Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 và 1288"... được hoàn thành trong điều kiện như thế và đã trở thành những tác phẩm lịch sử quân sự tiêu biểu.

Sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, một mặt do yêu cầu của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc vẫn còn đặt ra hết sức bức thiết, mặt khác bản thân ông cũng rất cần thời gian để hoàn tất một số công trình mang tính tổng kết, Phan Huy Lê tiếp tục dành nhiều tâm huyết cho mảng đề tài chống ngoại xâm. Khoảng 15 năm tính từ năm 1975, ông viết đến trên 80 công trình loại này, đưa tổng số các công trình về lịch sử chống ngoại xâm lên 120 (chiếm 26,97% trong tổng số 445 công trình ông đã hoàn thành).

Nói đến Phan Huy Lê người ta nghĩ ngay đến chuyên gia hàng đầu về lịch sử chống ngoại xâm với số lượng vượt trội các công trình nghiên cứu và với những tổng kết sâu sắc đã trực tiếp góp vào những chiến công chung của đất nước. Thế nhưng Phan Huy Lê không phải là nhà lịch sử quân sự chuyên nghiệp. Điều ông trước sau đặc biệt quan tâm là những vấn đề về kinh tế - xã hội. Mỗi khi có cơ hội, ông lại tranh thủ trở về với đề tài chế độ ruộng đất, nông dân, làng xã và đi sâu khai thác những nguồn tư liệu liên quan như địa bạ, châu bản, gia phả... kết hợp với điều tra khảo sát thực địa. Số công trình loại này từ năm 1975 đến 1999 tăng lên từ 10 đến 23 công trình trong khoảng thời gian 5 năm. Tổng số các công trình về mảng kinh tế - xã hội là 114 (chiếm 25,62%), đứng vào hàng thứ hai ngay sau mảng lịch sử chống ngoại xâm. Tiêu biểu cho mảng đề tài này ngoài "Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ", các tác phẩm viết về phong trào nông dân Tây Sơn, còn phải kể đến các bộ địa bạ Hà Đông, Thái Bình, Hà Nội, chương trình nghiên cứu gia phả Việt Nam, các cuốn sách, chuyên đề về hình thái kinh tế - xã hội, kết cấu kinh tế - xã hội, làng xã người Việt ở vùng đồng bằng Bắc Bộ...

GS. Phan Huy Lê bắt đầu mở rộng sang nghiên cứu lĩnh vực văn hoá - truyền thống từ những năm 1980 và sự quan tâm của ông đến lĩnh vực này càng ngày càng sâu sắc, toàn diện với số lượng trung bình trên 20 công trình cho khoảng thời gian 5 năm và tổng số công trình lên đến 104 (chiếm 23,37%). Những công trình tiêu biểu là "Truyền thống và cách mạng", "Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay" (3 tập), "Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, truyền thống và hiện đại" và hệ thống các bài viết về di sản văn hoá Thăng Long - Hà Nội...

Nhưng trách nhiệm lớn nhất đặt ra cho GS. Phan Huy Lê không phải là từng mảng lịch sử cụ thể mà là tổng kết lịch sử đất nước. Ngay từ năm 1959, nghĩa là khi mới bắt tay viết những trang bản thảo đầu tiên, ông đã có một tập bài giảng "Lịch sử Việt Nam từ 1406 đến 1858". Liên tiếp 2 năm sau, ông cho ra mắt "Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam" tập II (1960) và "Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam" tập III (1961), góp phần làm nên tầm vóc của Khoa Lịch sử. Năm 1971, ông cùng Trần Quốc Vượng viết "Lịch sử Việt Nam" tập I, được coi là cuốn thông sử đầu tiên của chế độ mới. Trong thời gian này hàng loạt các bài giảng, giáo trình khác về "Lịch sử Việt Nam" ra đời (vào các năm 1966, 1970, 1978...) làm cơ sở cho sự xuất hiện "Lịch sử Việt Nam" tập I (1983) - một cuốn sách tổng kết lịch sử Việt Nam từ thời kỳ nguyên thuỷ đến thế kỷ thứ X tương đối đầy đủ và cập nhật. Đặc biệt gần đây, trong đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước xây dựng bộ sách "Lịch sử Việt Nam" 4 tập, GS. Phan Huy Lê vừa là chủ biên, vừa là tác giả chính của 2 tập I và II, được coi là tổng kết cao nhất về giai đoạn lịch sử từ nguồn gốc cho đến giữa thế kỷ XIX.

Không chỉ dồn tâm, dồn sức viết các bộ thông sử, các tập giáo trình, Phan Huy Lê còn là tác giả của nhiều công trình lịch sử địa phương. Ông chăm chú theo dõi toàn bộ tiến trình lịch sử đất nước từ các quy luật vận động chung cho đến những hiện tượng có tính ngẫu nhiên của lịch sử. Với ông, sử liệu là chất liệu quan trọng nhất của công trình Sử học, nên trong quá trình nghiên cứu bao giờ ông cũng tìm cách mở rộng khai thác triệt để các nguồn sử liệu. Đồng thời với tiếp cận trực tiếp đối tượng, ông nêu thành nguyên tắc tiếp cận toàn bộ, toàn diện, đa tuyến về lịch sử Việt Nam trong mối quan hệ với khu vực và thế giới. Trân trọng và đề cao kinh nghiệm viết sử truyền thống, ông lại chính là người đi tiên phong hiện đại hoá và cập nhật các phương pháp nghiên cứu mới. Số lượng các công trình tổng kết lịch sử của ông vì thế cũng lên đến 107 (chiếm tỷ lệ 24,04%), đứng vào hàng thứ ba sau các mảng chống ngoại xâm và kinh tế - xã hội.

Có thể hình dung toàn bộ trước tác của GS. Phan Huy Lê được chia ra thành 4 mảng lớn gần tương đương nhau và đều ở mức rất cao (từ 104 đến 120 công trình). Thật hiếm có một học giả có khối lượng các công trình nghiên cứu đồ sộ và đạt đến đỉnh cao trên nhiều lĩnh vực chuyên môn như thế.

Tầm uyên bác trong các công trình Sử học của GS. Phan Huy Lê bắt nguồn từ trách nhiệm cao cả của một người thầy, vì theo ông dạy đại học là dạy kết quả nghiên cứu của chính mình.

Gần nửa thế kỷ qua, ngoài việc giảng dạy chính ở Khoa Lịch sử, ông còn dạy cho nhiều lớp ở Khoa Đông phương học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, các trường Đại học Tổng hợp và Đại học Sư phạm Huế, thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Paris VII (Pháp), Đại học Amsterdam (Hà Lan)... Hàng nghìn học trò qua ông đào tạo, nhiều người đã thành đạt, đang giữ những cương vị quan trọng trong các cơ quan nghiên cứu và giảng dạy ở trung ương và địa phương, ở trong nước và nước ngoài. Ông cũng là một trong những chuyên gia đầu tiên của nền giáo dục mới Việt Nam tham gia giảng dạy chuyên đề, hướng dẫn và phản biện nghiên cứu sinh trong nước và quốc tế, trong đó có 17 học trò trực tiếp của ông đã bảo vệ thành công các luận án tiến sĩ, tiến sĩ khoa học.

Bên cạnh nhiệm vụ đào tạo Sử học, ông còn được giao trách nhiệm xây dựng hai ngành học mới là Đông phương học và Việt Nam học. Ngành Đông phương học đến năm 1995 đã trở thành một khoa của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc ĐHQGHN, và ông đồng thời là Chủ nhiệm khoa đầu tiên, góp phần đào tạo trên 500 cử nhân các chuyên ngành Trung Quốc học, Nhật Bản học, Hàn Quốc học và Đông Nam Á học. Ngành Việt Nam học được khởi đầu bằng các Trung tâm Hợp tác nghiên cứu Việt Nam và Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và Giao lưu văn hoá do ông làm Giám đốc, đến nay đã phát triển thành Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển trực thuộc ĐHQGHN. Ông là người đi đầu khai mở và xây dựng quan hệ giao lưu, hợp tác với hầu hết các nhà Việt Nam học danh tiếng và các tổ chức nghiên cứu Việt Nam ở nước ngoài, tổ chức thành công Hội thảo Quốc tế Việt Nam học, đặt Việt Nam vào vị trí trung tâm của Việt Nam học toàn thế giới.

Từ năm 1988 cho đến nay, GS. Phan Huy Lê liên tục là Chủ tịch Hội Sử học Việt Nam. Ông còn giữ cương vị lãnh đạo chủ chốt hay là uỷ viên của nhiều Hội đồng Quốc gia như Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa, Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Hội đồng Lý luận Trung ương, Hội đồng Khoa học và Đào tạo Đại học Quốc gia Hà Nội, Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước, Hội đồng Quốc gia Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước, Hội đồng Di sản Văn hóa Quốc gia... Ở cương vị nào ông cũng đều có những đóng góp xuất sắc.

Ông được phong học hàm Giáo sư (1980), Nhà giáo ưu tú (1988), Nhà giáo nhân dân (1994); được tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì (1985), Huân chương Lao động hạng Nhất (1998), hạng Nhì (1994), hạng Ba (1974); được tặng Giải thưởng Nhà nước (2000), Giải thưởng Quốc tế Văn hoá châu Á Fukuoka, Nhật Bản (1996), Huân chương Cành cọ Hàn lâm của chính phủ Pháp (2002).

Và cao hơn cả, tên ông đã trở thành niềm kiêu hãnh của học trò và đồng nghiệp trong nước và quốc tế./.

Nguyễn Quang Ngọc [100 Years-VietNam National University,HaNoi]
Nguồn :

Please Login or Register to see this Hidden Content




#4 giolaodatme (Gửi lúc 02:41PM, 07-08-2007 )

    :: Hạt phù sa nhỏ bé ::

  • Thành Viên Danh Dự
  • PipPipPipPip
  • Bài viết: 562

Giáo sư Phan Huy Lê "Tìm về cội nguồn"

“Tìm về cội nguồn” (2 tập) là một cụm công trình nghiên cứu về lịch sử Việt Nam thời trung đại, chủ yếu từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX của GS Phan Huy Lê, công bố từ năm 1959 đến 1966.

Trong tập II của “Tìm về cội nguồn” có 5 bài trong công bố trong năm 1997 – 1998, không tính trong cụm công trình được thưởng Giải thưởng này.
Nhà xuất bản Thế giới in “Tìm về cội nguồn” tập I vào năm 1988 (tái bản năm 1999), gồm 34 bài, 819 trang khổ 14,5 x 20,5 cm; và tập II “Tìm về cội nguồn” vào năm 1999, gồm 45 bài, 934 trang khổ 14,5 x 20,5cm.

Cụm công trình này có nội dung theo mấy chủ đề sau:

- Các nguồn sử liệu và phương pháp, kết quả tiếp cận.

- Một số vấn đề lớn của lịch sử Việt Nam như quá trình hình thành dân tộc, sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội.

- Những vấn đề kinh tế – xã hội như: lao động làm thuê, chế độ ruộng đất, làng xã cổ truyền, nghề khai khoáng, thành thị, phong trào nông dân.

- Thiết kế chính trị như: tổ chức Nhà nước, vương triều Hồ và cải cách của Hồ Quý Ly, di sản về thiết chế chính trị.

- Những trận thắng lớn trong lịch sử chống ngoại xâm như: chiến thắng Bạch Đằng, Tốt Động, Chúc Động, Chi Lăng – Xương Giang, Rạch Gầm – Xoài Mút, Đống Đa.

- Một số nhân vật lịch sử tiêu biểu như: Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Quang Trung…; những nhân vật cần phải đánh giá lại như Alexandơ de Rhodes, Phan Thanh Giản; và một số nhân vật mới phát hiện như Nguyễn Tuấn Thiên, Đặng Tiến Đông, Lê Công Miễn.

- Truyền thống dân tộc.

“Tìm vê cội nguồn” là kết quả nghiên cứu cùng những phát hiện tư liệu và những tìm tòi, khám phá về lịch sử trung đại Việt Nam của các tác gia. Cụm công trình này góp phần nâng cao hiểu biết khoa học về lịch sử dân tộc, đã được sử dụng trong biên soạn giáo trình, chuyên đề giảng dạy đại học, sau đại học và trong biên soạn sách giáo khoa phổ thông, cũng như các loại sách phổ cập tri thức sử học cho nhân dân, đóng góp tích cực trong giáo trình truyền thống dân tộc, nâng cao nhận thức về những đặc điểm và quy luật vận động của xã hội và dân tộc Việt Nam.

Cụm công trình “Tìm về cội nguồn” được Nhà nước tặng giải thưởng Nhà nước năm 2000.

Nguồn: Bộ Khoa học và Công nghệ [Trang Tin tức Sự kiện]

#5 giolaodatme (Gửi lúc 02:46PM, 07-08-2007 )

    :: Hạt phù sa nhỏ bé ::

  • Thành Viên Danh Dự
  • PipPipPipPip
  • Bài viết: 562

Nhà sử học của nhân dân

Trong giới sử học Việt Nam đương đại, Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân, Nhà sử học Phan Huy Lê là một người hoạt động khoa học, giáo dục có tầm ảnh hưởng lớn không chỉ đối với đời sống chính trị, văn hoá, xã hội trong nước mà còn đối với giới sử học thế giới. Nhắc đến ông là nhắc đến một nhân cách lớn, một tấm gương sáng đáng được trân trọng, một con người làm khoa học chân chính với những công trình mà giá trị của nó đã vượt ra ngoài giới hạn không gian và thời gian...

Hướng về nguồn cội

Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân, Nhà Sử học Phan Huy Lê được đánh giá như một trong những chuyên gia nghiên cứu lịch sử hàng đầu của đất nước. Ông sinh năm 1934, là hậu duệ đời thứ 14 của dòng họ Phan Huy, dòng họ có truyền thống khoa bảng và sử học ở xã Thạch Châu, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh đầy sục sôi tinh thần cách mạng, trong nước thường xuyên diễn ra các cuộc đấu tranh giành độc lập (1930-1945) và sau đó là cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp (1945-1954), một ý thức về lịch sử hào hùng của dân tộc đã bùng cháy lên trong tâm khảm chàng thanh niên Phan Huy Lê và rồi chính điều này cũng góp phần dẫn dắt ông bước vào con đường sử học. Ông đã có lần tâm sự: "Mình đến với lịch sử cũng là muốn tìm hiểu biết bao điều còn ẩn chứa cần khám phá và lý giải một cách khoa học và từ đó hiểu được cội nguồn sức mạnh trường tồn của dân tộc". Thực ra trên con đường học tập, ông lại đặc biệt yêu thích các môn khoa học tự nhiên. Nhưng rồi do một sự tình cờ ngoài ý muốn, ông theo học Ban Sử - Địa. “Ban đầu cảm thấy buồn nhưng sau tôi nhận ra rằng, ở bất kỳ bộ môn khoa học nào, nếu đi sâu vào tìm hiểu đều có sự hấp dẫn riêng”.

Năm 1956, sau khi tốt nghiệp, ông được giữ lại làm trợ lý tập sự tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, dưới sự dẫn dắt của vị Giáo sư nổi tiếng Đào Duy Anh. Chỉ hai năm sau, thầy giáo trẻ Phan Huy Lê đã được giao nhiệm vụ làm Chủ nhiệm bộ môn Lịch sử Việt Nam Cổ- Trung đại và liên tục giữ trọng trách này hàng chục năm liền... Những năm đất nước tiến hành kháng chiến chống đế quốc Mỹ, ông đã góp phần vào thắng lợi chung của toàn dân tộc bằng những công trình nghiên cứu về lịch sử chống giặc ngoại xâm và truyền thống hào hùng của dân tộc. Có lần ông đã tâm sự: "Đó là trách nhiệm công dân của cá nhân tôi trước vận mệnh dân tộc nhưng cũng cho thấy vai trò của nhà sử học và giá trị của khoa học lịch sử đối với cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc”. Các công trình nghiên cứu của ông vào thời kỳ đó không chỉ là những nghiên cứu nghiêm túc, khoa học, chân thực về nhiều giai đoạn của lịch sử Việt Nam mà nó còn làm sống dậy hào khí chống giặc ngoại xâm của cha ông từ ngàn xưa, Đến nay, ông đã cho công bố hàng trăm công trình nghiên cứu có giá trị dưới dạng sách, luận văn, giáo trình, báo cáo khoa học ở trong nước và quốc tế.

Gương sáng một người thầy

Cùng với hoạt động nghiên cứu, Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân, Nhà Sử học Phan Huy Lê còn dành tâm huyết nghề nghiệp của mình truyền lại cho các thế hệ sinh viên. Những ai đã từng được nghe ông giảng thì không chỉ “tâm phục khẩu phục’’về kiến thức, tri thức sâu rộng, khúc triết, giọng nói trầm ấm, biểu cảm, mà còn thấy ở ông là một phong cách, một thế ứng xử đầy minh triết, một nhân cách khoa học toàn vẹn. Ông thường gắn kết những bài giảng của mình với các triết lý nhân sinh quan, thể hiện một nhân cách cao thượng, một tinh thần làm việc hăng say, hết mình cho sự thật và niềm đam mê.

Gần nửa thế kỷ gắn bó với giảng đường ở bậc đại học và trên đại học, ông đã góp phần quan trọng vào việc đắp móng xây nền cho Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội trở thành một trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học lịch sử lớn nhất Việt Nam. Những năm cuối thập kỷ 80, thế kỷ XX, ông đã thành lập Trung tâm nghiên cứu Việt Nam và giao lưu văn hoá nhằm mở rộng quan hệ với giới khoa học xã hội và nhân văn thế giới. Năm 1995, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội thành lập Khoa Đông Phương học, ông được cử làm Chủ nhiệm Khoa với mong muốn ông sẽ là người đặt nền tảng cho một ngành khoa học mới của đất nước.

Giờ đây, tên tuổi và sự nghiệp của ông luôn gắn chặt với nền sử học Việt Nam. Các công trình nghiên cứu của ông không đơn giản chỉ là dựa vào biên niên sử, văn bản và ghi chép chính thống của người xưa mà đều thể hiện khuynh hướng tìm tòi sử liệu mới, khai thác, sử dụng và đối chiếu với các nguồn sử liệu khác. Phát hiện và giám định sử liệu được ông đặc biệt chú ý bởi đó là “xương sống” của sử học. Điều ông vẫn luôn trăn trở cho nền sử học nước nhà là vấn đề lý luận, phương pháp nghiên cứu, trong đó hơn hết là sự trung thực đối với lịch sử, dường như đây chính là lời nhắn nhủ của ông muốn gửi gắm đến các thế hệ học trò.

(Báo Ảnh Việt Nam)

Nguồn : Sưu tầm từ Internet




0 người đang xem chủ đề

0 thành viên, 0 khách, 0 thành viên ẩn danh.