Đến nội dung





Hình ảnh

Đền Gôi với dòng họ Đinh Nho ở Hương Sơn, Hà Tĩnh


  • Please log in to reply
Chưa có bài trả lời

#1 Tống Trần Tùng (Gửi lúc 05:27PM, 04-04-2016 )

    Lính mới

  • Thành Viên
  • Pip
  • Bài viết: 21

Đền Gôi ở xã Sơn Hòa, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh đã được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh vào năm 2005 với tên gọi được ghi trong bằng công nhận di tích là đền Gôi Vỵ [4]. Bài viết xin được giới thiệu một số nét chính về ngôi đền và đề cập đến quá trình hình thành, tên gọi và mối liên quan đặc biệt giữa dòng họ Đinh Nho với lịch sử phát triển của di tích lịch sử văn hóa này. Tác giả bài viết xin được gửi lời cảm ơn chân thành đối với Cử nhân Vật lý, nhà giáo Đinh Nho Quỳ, tộc trưởng họ Đinh Nho ở Hương Sơn đã cung cấp nhiều tư liệu quý giá và đóng góp nhiều ý kiến xác đáng cho bài viết này. Ảnh 1: Cổng chính đền Gôi và tường bao đang được trùng tu 1. Khái quát về di tích đền Gôi Đền Gôi tọa lạc trên một khuôn viên rộng khoảng 2 ngàn mét vuông, quay mặt về hướng Tây và nhìn ra một cánh đồng rộng lớn. Từ đường cái đi vào cổng chính của đền phải qua một con đường men theo một khoảnh ruộng nước, trước đây từng là một cái đầm khá rộng và sâu. Khuôn viên của đền có tường bao quanh (ảnh 1). Trên đỉnh cột trụ của cổng chính là đôi nghê quay mặt vào nhau có các nét khắc tỉa rất tinh xảo. Hai bên cổng chính còn có 2 cổng phụ xây cuốn tò vò để làm lối ra vào. Án ngữ lối vào của cổng chính là một bức bình phong, còn gọi là “tắc môn - 塞門, tắc ở đây có nghĩa là che” xây thành hình cuốn cách điệu như một bức rèm, khoảng giữa bức rèm có trổ các ô hình quả trám sáu cạnh tăng thêm tính thanh thoát của bức bình phong. Trước kia, sau bức bình phong này là sân cỏ, vườn hoa, cây cảnh. Cho đến những năm sáu mươi của thế kỷ hai mươi, sau khi đi qua sân cỏ còn có một dãy tường ngăn cách với khoảnh sân lát gạch của ngôi đền. Dãy tường này được xây như một hàng rào bên trong của ngôi đền, chính giữa có cổng để đi vào sân gạch. Phía trên hai cột trụ cổng được xây vòm tạo thành một bức cuốn thư. Hai phía cuối của dãy tường hoa là hai cột trụ nhỏ hơn, trên đỉnh có hộp đèn lắp kính, bên trong đặt nến hoặc đèn dầu để thắp sáng trong các ngày tế lễ. Dãy tường và bốn cột trụ nay không còn, nhưng móng xây của bốn cột trụ thì vẫn có thể tìm thấy dưới lớp cỏ mọc che phủ chúng. Hai bên sân gạch là hai nhà Tả vu và Hữu vu đã bị hư hỏng nhiều và trở nên hoang phế (ảnh 2). Chính giữa sân trước đây có một bể nước nhỏ hình chữ nhật, hai góc phía trong là hai con voi đá (nay được chuyển vào sân thượng điện), còn hai góc sân phía ngoài là hai con chó đá (đã bị mất). Các công trình chính của ngôi đền như hạ điện, trung điện, thượng điện cùng nhà bia và nhà để khánh ít bị hư hỏng hơn. Hiện nay đền đang được các cơ quan chức năng của tỉnh Hà Tĩnh trùng tu. Các hạng mục như cổng chính, cổng phụ, tường bao bên ngoài.... đang được sữa chữa, khôi phục. Ảnh 2: Mặt chính nhà hạ điện trên có đắp cuốn thư Bước đầu khảo sát cho thấy trong đền còn những hiện vật và tư liệu lịch sử vô cùng quý giá. Đó là biển vàng, các tấm bia đá, khánh đá với văn khắc bằng chữ Hán còn rất rõ nét và các câu đối, các dòng chữ đắp trên cuốn thư .... Dưới đây xin được giới thiệu những nét chính liên quan đến các nguồn sử liệu này. 1.1. Thượng điện. Thượng điện gồm 3 gian, hiện nay để ngai thờ, bài vị của các vị Thần, phía trên là tấm biển sơn son thếp vàng (ảnh 3) khắc 3 chữ Hán “節婦門 - Tiết Phụ môn”, được cho là của vua ban cho bà Phan Thị Viên, á thiếp của Hoàng giáp Đinh Nho Hoàn [1;2;4]. Gian giữa của Thượng điện là nơi để 3 bài vị của Đại Tư đồ Đinh Quận công Đinh Điền, Anh Nghị Đại vương Đinh Nho Công và con trai ông, Đặc Đạt Đại vương Đinh Nho Hoàn. Trên bài vị ông Đinh Nho Hoàn có đoạn ghi “... phụng sứ tặng Lễ bộ Tả Thị lang...”, một chức vụ được gia phong của ông mà nhiều tài liệu viết về ông đã viết nhầm thành Tả Thị lang, Lại bộ Tả thị lang, Lại bộ Thượng thư... .[1;2;3.. ], còn ngai thờ của bà Tiết Phụ được đặt ở gian bên phải. Gian thờ bên trái để bài vị thờ “Cao Sơn Cao Các Mạc sơn Đại vương - 髙山髙閣莫山大王”, trong đó chữ “Mạc莫” có thêm bộ “Sơn山” ở trên, có thể để chỉ “Rú Vạc”, ngọn núi tượng trưng cho vùng An Ấp. Bài vị này được chạm khắc trang trọng nhất, có kích thước lớn nhất. Gian bên trái còn có các bài vị thờ “Đương cảnh Thành hoàng Kim đồng Ngọc nữ, Hoàng triều sắc phong niệm trứ linh ứng Dực bảo Trung Hưng Linh phù chi Thần, gia phong Quế Hoa Thượng đẳng Tôn thần -堂境城隍金童玉女皇朝敕封稔着灵應翊保中興灵扶之神加封桂花上等尊神” và bài vị thờ “Bản thổ Tôn Thần Linh vị -本土尊神 靈位” Hai bên ngai thờ ở gian giữa hiện nay còn đôi câu đối: 一門作述倡隨風聲長在 千古塔庵碑磬法物如新 Nhất môn, tác, thuật, xướng, tùy (1), phong thanh trường tại Thiên cổ, tháp, am, bi, khánh, pháp vật như tân Tạm dịch: Một nhà, hiếu, đễ, thuận, hòa, tiếng thơm lưu mãi Ngàn năm, tháp, am, bia, khánh, pháp vật còn nguyên Ảnh 3: Gian chính gữa của thượng điện, tháng 10/2014 Trên hai cột biên của thượng điện ở phía ngoài là hai cặp câu đối: 1) 洋洋乎如在其上其左右 籪 籪 兮能 保 我 民 我 子 孫 Dương dương hồ! như tại kì thượng kì tả hữu(2) Đoán đoán hề (3)! năng bảo ngã dân ngã tử tôn Tạm dịch: Mênh mông sao! Bao quát luôn trời cao, phải trái Bao dung thay! Chở che cả con cháu, dân lành 2)奧宅神皐环地千年秀氣 科名宦業仙山第一高峰 Áo trạch (4) thần cao, hoàn (4)địa thiên niên tú khí Khoa danh hoạn nghiệp, tiên sơn đệ nhất cao phong Tạm dịch: Nhà thờ thần phía Tây, đất ngọc ngàn năm tú khí Nghiệp khoa danh chức trọng, núi tiên nhất đỉnh thanh cao 1.2. Nhà bia. Trong nhà bia ở cánh gà bên trái của thượng điện dựng 3 khối bia đá (ảnh 4) nhưng vị trí sắp dựng các bia này không rõ vì lí do gì mà không được chỉn chu, như cự ly giữa các bia không đều nhau, không đủ không gian để có thể dễ dàng đọc được các mặt bia... Nôi dung của các tấm bia này liên quan đến các chức quan và phẩm tước của Hoàng giáp Đinh Nho Hoàn đã được đề cập chi tiết trong bài viết “Hoàng giáp Đinh Nho Hoàn và bia đền Gôi”[6]. Từ sân thượng điện nhìn vào, bia bên trái được khắc dựng năm Kỷ Sửu (1709), do Hoàng giáp Đinh Nho Hoàn soạn khi ông còn là Đốc trấn cao Bằng về quê để “huân mộc trùng tu” (chữ khắc trên bia, có nghĩa là trai giới tắm gội đứng ra trùng tu), nhưng không rõ là trùng tu công trình nào vì mặt sau của cột bia này lại ghi chép các nội dung liên quan đến các thửa ruộng tế. Liệu có phải những tấm bia này hồi đó được đặt trong từ đường của thân phụ ông, Thiêm đô Ngự sử Đinh Nho Công?. Bia bên phải dựng năm Nhâm Thìn (1712 - ảnh 5) cũng do Hoàng giáp Đinh Nho Hoàn soạn, khi ông đang giữ chức Thượng bảo Tự khanh, và giao cho người vợ cả của ông là bà Lê Thị Vệ khắc dựng. Bia này có nội dung ghi lại các thửa ruộng mà ông đã mua lại của một số người trong thôn để cúng cho dòng họ và thôn Côi Vỹ để lo việc hương khói, tế lễ. Phải chăng chính là để tế lễ ở đền Côi Vỹ, tức là đền Gôi Mỹ hiện nay?. Bia chính giữa có một bài nói về gia cảnh, khoa bảng, quan trường... do chính Hoàng giáp Đinh Nho Hoàn soạn, có thể do chính ông khắc dựng vào năm 1708 trong đó có đoạn tạm dịch như sau “...Lọt lòng 12 người con, tôi là con thứ. Khoa thi Hội năm Canh Thìn (1700), tôi 30 tuổi, đậu Đệ nhị giáp Tiến sĩ. Tháng 8 năm Nhâm Ngọ (1702) được bổ làm Sơn Tây xứ, tháng 7 năm Giáp Thân (1704) được bổ làm Đốc trấn Cao Bằng. ....Vậy xin được khắc vào bia đá từ năm Vĩnh Thịnh thứ tư (1708)...”. Các nội dung khác có thể về sau do con cháu của ông khắc vào bia này ghi lại những nội dung đã được ông soạn thảo trước đó, thuật lại việc ông được cử đi sứ vào năm Vĩnh Thịnh thứ 11(1715), được vua ban 2 bài ngự thi quốc âm, về quê lo việc nhà, lập người kế tự, dựng am, cúng 15 mẫu ruộng, 100 quan tiền để tế tự 4 mùa cùng bài răn dạy con cháu (sẽ được giới thiệu chi tiết ở phần sau). Ảnh 4. Ba cột bia trong nhà bia Ảnh 5: Khánh đá Mặc Trai 1.3. Nhà treo khánh. Đối diện với nhà bia là căn nhà bên phải thượng điện treo chiếc khánh Mặc Trai bằng đá do chính Hoàng giáp Đinh Nho Hoàn “cẩn tu” (soạn khắc) cũng vào năm Nhâm Thìn 1712. Trên khánh khắc bài minh của ông bằng chữ Hán có nội dung tạm dịch như sau: “Phàm mọi vật ở trạng thái yên tĩnh thì câm lặng nhưng gõ vào lại kêu, âm thanh phát ra mỗi vật mỗi khác. Âm thanh của khánh trong trẻo, có tiết tấu, tựa như có cái cao thượng của con người. Vì yêu thích những âm thanh ấy nên mới làm khánh Mặc Trai treo ở phía bên trái am để tăng thêm ý chí”. Điều cần lưu ý là trên cột đá làm khung giá để treo khánh lại có dòng chữ Hán ghi rõ là được dựng vào năm Cảnh Hưng thứ 17 (1756). 1.4. Hạ điện. Mặt chính hạ điện có đường nét kiến trúc Hoa-Âu, một mô típ kiến trúc của người Hoa bắt chước kiến trúc của châu Âu, khá thịnh hành ở miến Nam và miền Trung Việt Nam vào thập kỉ thứ 3 của thế kỉ XX. Trước đây, hạ điện có ba cửa ra vào, hiện tại hai cửa bên đã được sửa thành cửa sổ, phía trên các cửa xây cuốn có trang trí hình rẻ quạt (ảnh 2). Chính giữa mặt chính hạ điện ở trên cùng là một cuốn thư trên đó khắc lại những lời răn dạy của Hoàng giáp Đinh Nho Hoàn đối với con cháu (đã được khắc vào cột bia 4 mặt đặt trong nhà bia) có nội dung như sau: 尊神碑訓 忠孝扑厚淸倹楽貧進为義士退为良農勿驍滛勿犯上勿爭訟勿賭博方可近兹庵. 啟定乙丑岁 ...?... 恭進 Tôn thần bi huấn. Trung hiếu phác hậu, thanh kiệm lạc bần, tiến vi nghĩa sĩ, thoái vi lương nông, vật kiêu dâm, vật phạm thượng, vật tranh tụng, vật đổ bác phương khả cận tư am. Khải Định Ất Sửu tuế... ? ... cung tiến Tạm dịch: Bia ghi lời giáo huấn của vị thần tôn kính Trung hiếu chất phác hiền lành, khi tiến thân thì thành kẻ sĩ có nghĩa khí, khi lui về là người làm ruộng lương thiện. Những kẻ kiêu ngạo, ham hố, những kẻ coi thường bề trên, những kẻ hay tranh giành kiện tụng, những kẻ hay cờ bạc thì không thể đến với am này. Khải Định năm Ất Sửu (1925) ...?.... Cung tiến Trước hai chữ “Cung tiến” đúng ra còn phải có những chữ ghi danh tính của người đã cung tiến để đắp cuốn thư và khắc lại những lời răn dạy này của Hoàng giáp Đinh Nho Hoàn, nhưng chưa rõ vì lí do gì mà những chữ này hiện nay không còn. Trên 4 cột giả của mặt chính hạ điện còn có 2 cặp câu đối như sau: 1) 父作子述夫倡婦隨萬古綱常標準的 天寶物化地靈人傑億年宅里樹風聲 Phụ tác tử thuật, phu xướng phụ tùy, vạn cổ cương thường tiêu chuẩn đích Thiên bảo vật hóa, địa linh nhân kiệt, ức niên trạch lý thụ phong thanh Tạm dịch: Nghiệp cha, con tiếp nối, lời chồng, vợ nghe theo, tam cương ngũ thường xưa nay thành chuẩn mực. Ơn trời, vật biến hóa, người tài bởi đất thiêng, nề nếp phong tục ngàn năm tạo nếp nhà 2) 清忠節烈一門柱賴以尊維賴以立 文物 聲名此地山不在 高水不在深 Thanh, trung, tiết, liệt, nhất môn trụ lại dĩ tôn, duy lại dĩ lập Văn, vật, thanh, danh, thử địa sơn bất tại cao, thủy bất tại thâm Tạm dịch: Trong sạch, thẳng ngay, khí tiết, trung thành, nhờ đó mà gia phong bền vững Văn nhân, bác vật, nổi tiếng, sáng danh, đâu bởi tại núi thẳm sông sâu 1.5.Một số câu đối liên quan khác. Trong cuốn gia phả của chi họ Đinh ở Thanh Liêu (nay là xã Thanh Liên, Thanh Chương, Nghệ An) doTiến sĩ Đinh Nhật Thận, chắt của Hương Nghĩa Hầu Đinh Nho Côn, biên soạn vào khoảng đầu thế kỷ 20 [8], trong đó có phần đầu là phần sao chép “Hương yên phổ tự” do Triều liệt Đại phu Đinh Thái Lãng (1753- 1809) khởi soạn, về sau có bổ sung cập nhật, thì phần chép về神祠対聮 (thần từ đối liên: câu đối đền thờ thần) ở trang 85 có ghi lại 4 câu đối. Có thể các câu đối này trước đây đã được khắc vào các hàng cột cổng của bức tường hoa phía trong đã được nói đến ở trên. Các câu đối này được chép theo thứ tự trong phả như sau: 1) 两途史入名臣傳 三字人 欽 節婦香 Lưỡng đồ sử, nhập danh thần truyện Tam tự nhân, khâm tiết phụ hương Tạm dịch: Lịch sử hai con đường ghi chép truyện Danh Thần Người biết dăm ba chữ tôn kính bà Tiết Phụ 2) 歸讀世開黃榜券 威靈地起白云祠 Quy độc thế, khai hoàng bảng khoán Uy linh địa, khởi Bạch Vân từ Tạm dịch: Một thế hệ sách đèn, mở trang sử bảng vàng Một mảnh đất uy linh, dựng đền thiêng mây trắng Bản “Lý lịch di tích đền Bạch Vân” [10] cho biết “theo ông Nguyễn Chưởng đọc lại và được nhà nghiên cứu Thái Kim Đỉnh ghi và dịch nghĩa” thì câu đối này thuộc đền Bạch Vân có nội dung như sau: Thần bút hà niên hoàng bảng trợ Linh từ chung cổ Bạch Vân lưu Và được dịch ra tiếng Việt là: Bút thần năm trước nên bảng vàng Đền cổ ngàn năm dấu Bạch Vân Thế nhưng, ngay tại đền Thịnh Xá (đền Bạch Vân) cũng không tìm thấy chỗ nào có khắc câu đối này. Câu “Đền cổ ngàn năm dấu Bạch Vân”còn được một số tác giả lấy làm tiêu đề bài viết của mình. 3) 姓字寿江山双庚虎榜 英靈恆今古四道鸞書 Tính tự thọ giang sơn song canh Hổ Bảng Anh linh hằng kim cổ tứ đạo(7) Loan Thư(8) Tạm dịch: Họ tên còn mãi với non sông, báo ân song hành bằng công danh khoa bảng Anh linh vĩnh hằng cùng kim cổ, tu tâm tứ đạo sánh gia tộc Loan Thư 4) 譜存本何敢忘驩爱二州經世代 族同地亦非異鴻藍千古一江山 Phả tồn bản, hà cảm vong, Hoan Aí nhị châu kinh thế đại Tộc đồng địa, diệc phi dị, Hồng Lam thiên cổ nhất giang sơn Tạm dịch: Phả còn gốc, quên được sao, Hoan Ái hai châu bao thế thứ Họ trong vùng, đâu xa lạ, Hồng Lam muôn thuở một giang sơn. Theo một số tài liệu [1] thì câu đối này là của Hoàng giáp Đinh Văn Chấp (1882-1953), thuộc dòng họ Đinh Văn ở Kim Khê (nay là xã Nghi Long, Nghi Lộc, Nghệ An) cung tiến nhà thờ họ Đinh Nho ở làng Gôi Mỹ, tổng An Ấp (nay thuộc xã Sơn Hòa, Hương Sơn, Hà Tĩnh). 2. Gôi Vỵ hay Gôi Mỹ? Cũng giống như các ngôi đền của các làng xã trong tổng An Ấp nói riêng và vùng Hương Sơn nói chung, đền Gôi là ngôi đền của Kẻ Gôi. Kẻ Gôi là một trong những làng Việt cổ nằm trong thung lũng của 2 dãy núi Thiên Nhận và Đại Hàm thuộc dãy núi Giăng Màn (còn có tên khác là Khai Trướng hay Trường Sơn). Các “Kẻ” ở phía tả ngạn sông Ngàn Phố chỉ có Kẻ Gôi, Kẻ Quát, Kẻ Sét nằm ven triền sông còn Kẻ Mỏ, Kẻ Trảy, Kẻ Đọng, Kẻ Rái, Kẻ Trúa, Kẻ Eo, Kẻ E đều nằm dưới chân các dãy núi. Khi văn tự Hán thâm nhập vào nước ta, tùy thuộc vào tiến trình phát triển, các địa danh nôm này lần lượt được “Việt Hán hóa”. Kẻ Rái thành Hàm Lại, Kẻ Eo thành Thọ Lộc, Kẻ Trúa thành Đồng Lộ, Kẻ Trảy thành Tri Lễ, Kẻ Đọng thành Lệ Định, Kẻ E thành Xuân Trì, Kẻ Sét thành Ninh Xá. Riêng Kẻ Quát và Kẻ Mỏ thì vẫn giữ nguyên địa danh thuần nôm mà không được mỹ tự Hán nào thay thế. Còn ở Kẻ Gôi vẫn tồn tại địa danh Gôi trong tên của chợ Gôi nổi tiếng cả vùng Hoan châu cho đến ngày nay, nhưng làng cổ Kẻ Gôi đã được “Việt Hán hóa”. bằng những địa danh gì và vào thời điểm nào? Xin được đi ngược thời gian bắt đầu từ tên gọi ngày nay của xã Sơn Hòa, nơi đền Gôi tọa lạc. Trước năm 1955, xã Sơn Hòa có tên là xã Mỹ Hòa. Trước đó, sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, 2 thôn Gôi Mỹ và Bình Hòa được ghép lại thành xã Mỹ Hòa vào năm 1946. Hai thôn Gôi Mỹ và Bình Hòa thời Lê trung hưng thuộc xã An Ấp, đến đời Nguyễn được nâng lên thành tổng An Ấp (bao gồm tất cả các thôn và các “Kẻ” nằm ở hạ lưu phía Tả ngạn sông Ngàn Phố). Tấm bia cổ “Thái Hòa thôn khoán điền bi” còn được lưu giữ trong khuôn viên của đền Bình Hòa (nay là trường THPT Lý Chính Thắng) ghi rõ, cho đến năm 1760, thôn Bình Hòa vẫn giữ tên gọi là thôn Thái Hòa [11]. Sắc phong Lương Thái y cho ông Trần Xuân Huyên của vua Cảnh Hưng năm thứ 7 (1746) đang được lưu giữ trong nhà thờ họ Tống ở xã Sơn Hòa còn ghi rõ thôn Thái Hòa thuộc xã An Ấp. Thôn Bình Hòa không phải là làng Việt cổ nên không thuộc “Kẻ” nào cả, nhưng thôn Gôi Mỹ trước là “Kẻ Gôi” nên tên chữ của thôn này là gì? Gôi Mỹ như trong tên gọi xã Mỹ Hòa trước đây hay Gôi Vỵ như được ghi trên bằng công nhận di tích của đền Gôi? Như mục 1 đã đề cập, tấm bia khắc dựng năm 1712 có ghi tên thôn này là “...Côi Vĩ thôn瑰偉村...”với ý nghĩa Côi Vỹ là “quí báu kì lạ”. Có phải do tên nôm “Gôi” không thể dùng chữ Hán (kể cả chữ Nôm cũng không có chữ “Gôi” mà chỉ có chữ “Gồi” cũng dùng chữ “Côi” có thêm bộ “thảo” ở trên để chỉ lá gồi lợp nhà hay gồi lúa[9])) nên Hoàng giáp đã dùng chữ “Côi 瑰” để ghép với chữ “Vỹ偉” thành thôn Côi Vỹ hay cái tên này đã được chính thức sử dụng trong các văn bản hành chính của thời Lê trung hưng?. Về sau, trong bản chép của một ông thầy địa lí ghi lại “dương cơ” của họ Đinh Nho, chữ “Côi 瓌” bị chép sai thành chữ “Hoán繯 - cái thòng lọng?”do 2 chữ này có các nét khá giống nhau nên cũng có người còn cho rằng tên gọi của thôn này là “Hoán Vỹ繯偉” (!?). Trong hồi ký “Từ làng Gôi Vỵ đến kinh thành Pa-ri” của nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện, khi viết về về quê hương mình ở chính thôn này, ông đều sử dụng địa danh Gôi Vỵ nhưng em ruột ông là Giáo sư Nguyễn Khắc Dương, cũng trong hồi ký của mình lại viết là Gôi Mỹ. Sở dĩ như vậy vì cho đến cuối đời nhà Lê, thôn này vẫn có tên là Côi Vỹ. Mãi đến thời nhà Nguyễn, do được sáp nhập với thôn Đông Mỹ, Kẻ Gôi đã được đổi tên thành Côi Mỹ thôn (瓌 美 村). Sắc lệnh của vua Tự Đức năm thứ 25 cho ông Đinh Chân ghi rõ là An Ấp tổng, Côi Mỹ thôn (安邑總瓌美村). Tuy vậy, từ Gôi vẫn tồn tại trong tâm thức cũng như trong cái tên chợ Gôi nổi tiếng của cả vùng nên người dân vùng này vẫn giữ từ Gôi và chữ Vỹ thì đọc theo phương ngữ nên cái địa danh Gôi Vỵ, về sau là Gôi Mỵ nôm na được nhân dân dễ chấp nhận hơn và được dùng phổ biến hơn so với cái tên “Côi Vỹ” vừa khó phát âm vừa khó hiểu đối với họ. Thế nhưng địa danh Gôi Mỹ một lần nữa lại bị chép nhầm thành Hòan Mỹ để chỉ quê quán của các Cử nhân Đinh Nho Khâm, Đinh Nho Mỹ (khoa Ất Mão, Duy Tân 9 - 1915), Đinh Nho Bằng (khoa Mậu Ngo, Khải Định 3 - 1918) trong "Quốc triều đăng khoa lục" [13] và sau này trong "Các nhà khoa bảng Hà Tĩnh" [14]. Cũng giống như trường hợp chép nhầm thành chữ Hóan 繯ở trên, chẳng qua là do chữ 瓌có thể đọc là Côi, là Hoàn và tự dạng của chữ Côi 瓌rất giống chữ Hòan 環. Cũng có thể dịch giả phiên âm nhầm. Cũng may là nghĩa của chữ Côi và chữ Hoàn ở đây đều có nghĩa là ngọc cả. Người dân ở đây vẫn gọi ngôi đền của làng mình một cách mộc mạc, dân dã là đền Gôi để nhớ về tên gọi xa xưa của làng là Kẻ Gôi, nhưng các học giả thì lại chép vào văn tự thành nào là Côi Vỹ rồi nhầm thành Hoán Vỹ, sau đó lại là Côi Mỹ và lại chép nhầm hay phiên âm nhầm thành Hoàn Mỹ, rồi nay lại là Gôi Vỵ... Những lí giải trên phù hợp với việc năm 1946, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã dùng từ “Mỹ” của làng Gôi Mỹ và từ “Hòa” của làng Bình hòa để đặt tên xã Mỹ Hòa, mặc dầu nếu theo văn bia đền Gôi khắc năm 1712 thì tên thôn trước đó là Côi Vỹ. Do vậy, tên của đền Gôi hiện nay nên được sử dụng là đền Gôi Mỹ thì hợp lý hơn. 3. Đền Gôi và dòng họ Đinh Nho Điều đặc biệt của đền Gôi, ngôi đền của Kẻ Gôi trước đây và của làng Côi Vỹ tức Côi Mỹ sau này, là các vị nhân thần được thờ trong đền Gôi hiện nay đều thuộc một gia đình danh gia vọng tộc của dòng họ Đinh Nho, một dòng họ đến định cư ở Kẻ Gôi về sau nhưng lại trở thành niềm vinh dự và tự hào của mảnh đất này. Các vị thần này gồm bà Tiết Phụ Phan Thị Viên, Anh Nghị Đại vương Đinh Nho Công, Đặc Đạt Đại vương Đinh Nho Hoàn (con ông Đinh Nho Công, chồng bà Tiết Phụ) và Hương Nghĩa Hầu Đinh Nho Côn, em ruột ông Đinh Nho Hoàn. Phả họ Đinh Nho [1] còn ghi lại bài tán bốn vị Phúc Thần thờ ở đền Gôi của Thái bộc Tự khanh Đinh Hy Tăng ( Đinh Nho Tĩnh), trong đó có câu: ...Trên hộ nước, dưới che dân Một nhà bốn vị Phúc Thần vinh bao… Cách đền Gôi không xa là nhà thờ của chi họ Tống thờ năm vị Phúc Thần của làng Bình Hòa là Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng Thượng đẳng Thần, Quế Hoa Công chúa Tôn Thần Thượng đẳng Thần và ba vị con trai của ông Trần Tống Đâu, hậu duệ đời thứ 9 của Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng. Ba vị này là Lương Thái y Trần Xuân Huyên, Huyền Trung Hầu Trần Viết Nhã và Giám sinh Đề đốc Trần Tử Hoán. Cả năm vị này đều được các triều đại nhà Lê và nhà Nguyễn sắc phong là Phúc Thần của làng Thái Hòa, về sau là làng Bình Hòa[12]. Các sắc phong này hiện vẫn được lưu giữ. Điều đặc biệt là thân phụ của ba vị thần tiếp theo này, Tiên tổ khai cơ của chi họ Tống ở Bình Hòa, chính là con nuôi của Anh Nghị Đại vương Đinh Nho Công. Điều thú vị về sự đa dạng văn hóa làng xã ở đây là đền Gôi của làng Gôi Mỹ trở thành nơi dân làng thờ phụng các vị Phúc Thần của làng Gôi Mỹ mà các vị Thần đều xuất thân từ dòng họ Đinh Nho, còn nhà thờ của chi họ Tống lại trở thành nơi con cháu họ Tống thờ phụng các vị Phúc Thần của làng Bình Hòa và các vị Thần ở đây cũng đều xuất thân từ dòng họ Tống Trần. Nhiều người cho rằng, vị Nhân thần được thờ ở đền Gôi trước hết là bà Tiết Phụ Phan Thị Viên, sau đó mới đến 3 vị Đinh Nho Công, Đinh Nho Hoàn và Đinh Nho Côn. Người dân vùng này cho đến nay vẫn có người gọi đền Gôi là đền bà Tiết Phụ [1;4; 10]. Tuy vậy, theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục [5] thì năm Đinh Dậu, Vĩnh Thịnh năm thứ 13 triều vua Lê Dụ Tông - 1717, sau khi tuẫn tiết theo chồng, bà Phan Thị Viên được “tặng phong Á thận Phu nhân, lập từ đường để thờ và ban cho biển vàng đề 2 chữ “tiết phụ” treo trước cửa nhà Phan Thị để biểu dương” chứ không thấy chép được phong Phúc Thần. Đại Nam nhất thống chí [7] cũng chép tương tự “Triều đình biết việc, tặng Á thận phu nhân cho lập đền thờ lại ban cho biển ngạch và 20 mẫu tự điền”. Còn theo ghi chép của gia phả họ Đinh Nho và những dòng chữ Hán khắc trên bài vị của bà thì đến đời nhà Nguyễn, bà được gia phong "Lương Tịnh Thục Diệu Nhàn Uyển Đoan Túc Dực Bảo Trung Hưng Phúc Thần". Triều Nguyễn “gia phong” vì trước đó, bà đã được triều Lê “tặng phong Á thận Phu nhân” và ban cho biển vàng đề 2 chữ “Tiết Phụ”. Trong khi đó Tiến sĩ Đinh Nho Công (1637-1695), cha chồng của bà đã mất trước khi bà tuẫn tiết, cũng theo bài vị thờ ông và theo phả họ Đinh “được tấn phong Anh Nghị Đại Vương” vào đời Cảnh Hưng, đến triều Nguyễn thì được “khâm tặng Đoan Túc Dực Bảo Trung Hưng Phúc Thần”. Còn chồng bà, Hoàng giáp Đinh Nho Hoàn (1671-1716), cũng theo bài vị thờ ông và gia phả nói trên thì cũng “đến đời Cảnh Hưng, Ngài được tấn phong Đặc Đạt Đại Vương” và được triều Nguyễn “khâm phong Tuấn Lương, Lượng Trực Đoan Túc Dực Bảo Trung Hưng Phúc Thần”. Qua các ghi chép còn được lưu giữ nêu trên, có thể nhận định những vị Thần đầu tiên được rước vào thờ phụng ở đền Gôi vào khoảng giữa thế kỷ 18 thời vua Cảnh Hưng phải là Anh Nghị Đại vương Đinh Nho Công và con trai của ông là Đặc Đạt Đại vương Đinh Nho Hoàn. Cũng xin được nói thêm là việc ban sắc cho các vị Nhân thần và giao cho các làng thờ phụng thường là thần đàn ông vì theo quan niệm của triết lý phương Đông, khí Dương đem sức mạnh cho muôn loài, muôn vật. Còn theo Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính, thì “mỗi làng phụng sự một vị Thần hoàng, có làng thờ hai ba vị, có làng thờ năm bảy vị, gọi chung là Phúc Thần”. Đến cuối thế kỷ 19, thời nhà Nguyễn, nhất là sau khi vua Đồng Khánh lên ngôi năm 1885, ban cho Thánh Mẫu Liễu Hạnh 4 chữ “Mẫu Nghi Thiên Hạ”, thì đạo Mẫu được triều đình coi trọng và phát triển khắp cả nước. Cùng với sự phát triển của đạo Mẫu, vai trò của nữ giới được đề cao, nên có thể vào khoảng thời gian này, bà Phan Thị Viên đã được gia phong "Lương Tịnh Thục Diệu Nhàn Uyển Đoan Túc Dực Bảo Trung Hưng Phúc Thần" như bài vị thờ bà và phả họ Đinh đã ghi lại. Cũng khoảng thời gian này, vào năm 1894, vua Thành Thái lần đầu tiên đã giao cho làng Văn Giang cũng nằm trong xã An Ấp thờ phụng Công chúa Liễu Hạnh ở “Chùa Đức mẹ” và sắc phong cho Thánh Mẫu Liễu Hạnh là “Phổ Độ, Anh Linh, Tĩnh Chính, Diệu Hóa, Trang Huy Dực Bảo Trung Hưng Thượng đẳng Thần”. Như vậy thì bà Tiết Phụ được nhà Nguyễn sắc phong Phúc Thần và được rước vào thờ ở đền Gôi sau cha chồng và chồng bà sẽ phù hợp hơn với những nguồn sử liệu và lí giải nêu trên. Kích thước bài vị của bà Tiết Phụ (vừa được tìm thấy) bé hơn so với bài vị của ông Đinh Nho Công và ông Đinh Nho Hoàn càng khẳng định thêm điều này. Còn Hương Nghĩa Hầu, Tổng binh Đổng tri Đinh Nho Côn, theo phả họ Đinh Nho, được thờ ở đền Gôi do được (triều Nguyễn) sắc phong là “Đoan Túc Dực Bảo Trung Hưng Phúc Thần”. 4. Thay lời kết Cũng như các làng khác trong tổng An Ấp trước đây nói riêng và các thôn làng ở nước ta nói chung, mỗi làng đều có một ngôi đền mang tên làng mình được lập nên để thờ các vị Thiên thần, các vị Nhân thần và các bậc khoa bảng, quan lại tiên hiền của làng mình. Căn cứ vào các văn bia còn lại ở các ngôi đền cổ ở vùng này như bia đền Thái Hòa đã nói ở trên, ít nhất là cuối thế kỷ 16, đầu thế kỉ 17, các thôn thuộc tổng An Ấp đã có đền thờ của thôn mình. Những làng cổ như Kẻ E có đền Xuân Trì, Kẻ Eo có đền Thọ Lộc... còn những làng được lập về sau như Thái Hòa có đền Thái Hòa, Yên Bài có đền Yên Bài, Thịnh Xá có đền Thịnh Xá v.v. Và làng Côi Vỹ, về sau đổi thành Côi Mỹ cũng vậy. Trong các nội dung được ghi lại ở các tấm bia nêu trên, Hoàng giáp Đinh Nho Hoàn có nói đến việc tế lễ hàng năm của dòng họ và của thôn Côi Vỹ thì đền Gôi chính là nơi tế lễ hàng năm của thôn Côi Vỹ. Đấy là chưa kể đến việc trước đây, làng Côi Mỹ còn là trung tâm hành chính của cả xã An Ấp. Có thể khẳng định rằng, đền Gôi đã có trước khi các vị Thần của dòng họ Đinh Nho được rước vào thờ trong đền, chứ không phải như nhiều tài liệu, nhiều ấn phẩm đang lưu hành cho rằng đền Gôi được xây dựng vào năm 1717 theo chỉ dụ của triều đình nhà Lê để thờ bà Tiết Phụ [1;4]. Các hồ sơ di tích được lập đối với đền Gôi Vỵ, đền Bạch Vân[10]... và nhiều bài viết, ấn phẩm được xuất bản gần đây dựa vào các hồ sơ di tích này [4];[15]... nhận định cho rằng đền Gôi Vỵ được xây dựng năm 1717 để thờ bà Phan Thị Viên, đền Bạch Vân (đúng ra là đền Thịnh Xá của làng Thịnh Xá và am Bạch Vân) do ông Đinh Nho Công lập ra năm 1670 để thờ bạn mình là ông Trần Toản người Thanh Hóa.... đã trực tiếp phủ nhận và xóa bỏ lịch sử hình thành và phát triển văn hóa của vùng An Ấp nói riêng và của Hương Sơn nói chung tính từ cuối thế kỉ XVII trở về trước. Những nhận định hồ đồ này cần phải được phê phán và loại bỏ trong các ấn phẩm, nhất là các ấn phẩm chính thống như Hồ sơ di tích, Dư địa chí... Tuy vậy, một thực tế đã diễn ra trong tiến trình lịch sử văn hóa là ngôi đền của làng Côi Vỹ từ gần 300 năm nay đã trở thành ngôi đền thờ phụng bốn vị nhân thần đều thuộc một gia đình danh gia vọng tộc của dòng họ Đinh Nho. Với niên đại khắc trên cột đá của khung giá treo khánh Mặc Trai có thể cho rằng thời điểm vua Lê sắc phong Anh Nghị Đại vương cho ông Đinh Nho Công và Đặc Đạt Đại vương cho ông Đinh Nho Hoàn, thời điểm cả hai cha con được dân làng Côi Vỹ rước vào thờ phụng trong ngôi đền của làng mình cũng như thời điểm ba khối bia đá được chuyển từ một nơi khác đưa vào trong đền cùng với khánh Mặc Trai là năm Cảnh Hưng thứ 17 (1756), tức là 40 năm sau ngày Hoàng giáp Đinh Nho Hoàn qua đời và vợ ông, bà Tiết Phụ Phan Thị Viên tuẫn tiết. Đến triều Nguyễn, bà Tiết Phụ mới được phong là Phúc Thần và chỉ từ thời điểm đó, bà mới được rước vào thờ trong đền Gôi. Tấm biển vàng khắc 3 chữ Hán “節婦門 - Tiết Phụ môn” (có nghĩa là gia tộc, gia thất của bà Tiết Phụ hay môn đệ, những người noi gương bà Tiết Phụ) liệu có đúng là nguyên bản tấm “biển vàng đề 2 chữ tiết phụ” do vua Lê ban tặng như sử sách [5;7] đã ghi chép hay đó là một tấm biển được những người ngưỡng mộ, noi gương bà cung tiến vào thời điểm rước bà Tiết Phụ vào thờ trong đền Gôi? Liên quan đến điều này còn có ngọn tháp xây bằng gạch vồ ở phía sau đền đang có một cây cổ thụ mọc xuyên qua và các chùm rễ cây bám chặt, phủ gần kín các mặt ngoài của ngọn tháp. Tương truyền đây là vị trí mà bà Tiết Phụ đã treo cổ tuẫn tiết theo chồng liệu có đúng không? Và 3 tấm bia đá cũng như chiếc khánh Mặc Trai trước khi được đưa vào đền Gôi đã được đặt ở đâu? Trước khi được nhà Nguyễn phong Phúc Thần và được dân làng rước vào đền Gôi để thờ phụng, bà Tiết Phụ đã được thờ phụng ở “từ đường” được lập theo chỉ dụ của vua Lê Dụ Tông, nhưng “từ đường” này được xây dựng ở đâu? Có thể ở bên cạnh đền Gôi, ở cạnh ngọn tháp xây băng gạch vồ nói trên chăng? Hay là đã từng tồn tại một ngôi từ đường thờ bà Tiết Phụ ở phía Tây của đền Gôi như trong thông điệp “Áo trạch thần cao...” của một vế đối khác ở thượng điện được đề cập ở trên?...Những câu hỏi này cần được tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu thêm. Cuối cùng, có thể khẳng định rằng, những dòng chữ Hán đề niên đại trên cuốn thư đắp trên mặt chính của hạ điện cho thấy vào năm Ất Sửu, triều vua Khải Định (1925), đền đã được trùng tu và xây dựng có quy mô hoàn chỉnh như hiện nay, trừ dãy tường phía trong có các cột trụ gắn lồng đèn lắp kính cùng vườn hoa cây cảnh nay không còn. Chú thích: (1) Tác thuật xướng tùy: viết gọn của “phụ tác tử thuật, phu xướng phụ tùy”: cha làm con kể, chồng nói, vợ thuận theo” (2) Ý này lấy trong “Trung dung” (Tứ thư), nguyên văn là: “洋 洋 乎, 如 在 其 如 在 其 左 右- Dương dương hồ, như tại kỳ thượng, như tại kỳ tả hữu!” (3) Ý này lấy trong “Đại học” (Tứ thư), “đoán đoán - 籪 籪” là để chỉ người thật thành khấn, chân tình (4) Áo trạch奧宅: Áo trạch là chỉ thần Áo trong nhà. Tục thời xưa hay thờ thần Áo ở góc Tây Nam trong nhà. Tục thờ thần Áo cũng giống như thờ thần Táo (ông táo). Áo trạch còn có nghĩa là ngôi nhà rộng lớn ở phía Tây (5) Hoàn 環, giản thể là 环: Cái vòng ngọc, hoàn hảo (6) Tứ đạo 四道: Theo giáo lí nhà Phật, “tứ đạo” gồm vô sắc ái, ngã mạn, phóng dật, vô minh nhằm đoạn trừ hoàn toàn sắc ái. (7) Loan Thư鸞書: Chính khanh thời Xuân Thu. Tổ tiên của họ Loan là Tân Phụ có công phò tá Khúc Ốc Hoàn Thúc nên được phong ở ấp Loan, từ đó lấy chữ Loan làm họ. Đến đời Loan Chỉ giúp Tấn Văn công xưng bá, được phong Hạ quân tướng, thành một gia tộc lớn. Loan Chỉ sinh Loan Thuẫn, Loan Thuẫn sinh Loan Thư nối chức cha làm đại phu. Năm 597TCN, Loan Thư được phong Hạ quân tá. Theo nhà giáo Đinh Chí thì “loan” là chim loan, còn “thư” là những chỉ dụ của nhà vua. Như vậy "tứ đạo loan thư” mang ý nghĩa 4 lần Hoàng giáp Đinh Nho Hoàn được nhà vua ban chỉ dụ cho ông “phụng sai Sơn Tây xứ”; “phụng sai Cao Bằng trấn Đốc Trấn”, đảm nhận chức vụ Tự khanh của Thượng bảo tự và Phó sứ đoàn sứ thần sang nhà Thanh. Tài liệu đã dẫn [1]. Gia phả họ Đinh Nho - Hương Sơn [2]. Hoàng giáp Đinh Nho Hoàn với Mặc Ông sứ tập, Ngô Đức Thọ- VHNA, 11/2009 [3]. Các nhà khoa bảng Việt Nam, Ngô Đức Thọ chủ biên - NXB Văn học 1993 [4]. Cần có biện pháp bảo vệ khi chưa muộn, Lê Văn Tân - báo QĐND, 02/05/2013 [5]. Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập II, NXB Giáo dục, 1998 [6]. Hoàng giáp Đinh Nho Hoàn và bia đền Gôi, Tống Trần Tùng - VHNA, 280, 2014 [7]. Đại Nam Nhất thống chí, tập 2, quyển V, NXB Thuận Hóa, 1997 [8]. Phả họ Đinh ở Thanh Liêu, Thanh Chương, Ngh ệ An, bản chép tay, chữ Hán [9]. Đại tự điển chữ Nôm, Vũ Văn Kính - NXB Văn nghệ, TP HCM, 2010 [10]. Hồ sơ di tích Kiến trúc nghệ thuật đền Bạch Vân và chùa Thịnh Xá xã Sơn Thịnh, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh – Bản lý lịch di tích. Sở Văn hóa và Thông tin – Bảo tàng Hà Tĩnh. Hà Tĩnh 2007 [11]. Những tấm bia cổ của làng Thái Hòà – dấu tích Văn chỉ làng Việt xưa. Tống Trần Tùng - huongson.gov.vn, Cổng thông tin điện tử huyện Hương Sơn, 03/01/2014 [12]. Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng trong lòng quê hương và dòng họ. Tống Trần Tùng- NXB Thế giới, Hà Nội, 2011 [13]. Quốc triều hương khoa lục, Cao Xuân Dục. Dịch giả: Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Thị Lâm. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1993. [14]. Các nhà khoa bảng Hà Tĩnh, Thái Kim Đĩnh, Hội LHVHNT Hà Tĩnh, 2004 [15]. Địa chí Hương Sơn. Đinh Xuân Lâm – Thái Kim Đỉnh đồng chủ biên, NXB Lao động, 2015

Facebook Comments




0 người đang xem chủ đề

0 thành viên, 0 khách, 0 thành viên ẩn danh.


TEXT LINK:
- Nhạc vàng