Đến nội dung





Hình ảnh

Xin đừng sao chép tùy tiện và suy diễn chủ quan về văn hóa, lịch sử


  • Please log in to reply
Chưa có bài trả lời

#1 Tống Trần Tùng (Gửi lúc 09:21AM, 23-03-2014 )

    Lính mới

  • Thành Viên
  • Pip
  • Bài viết: 21

Trong những năm gần đây, công tác sưu tầm, biên soạn để giới thiệu các nhân vật, các di tích lịch sử, văn hóa, nghệ thuật... ở Nghệ An ngày càng được nhiều cá nhân, tổ chức tham gia. Mảnh đất và con người xứ Nghệ với truyền thống hiếu học, với bề dày lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước được chú ý giới thiệu và đã thu hút được sự quan tâm theo dõi của bạn bè khắp trong và ngoài nước. Tuy vậy, một số công trình nghiên cứu, một số bài viết được đăng tải trên một số tờ báo, tạp chí ở Nghệ An vẫn tồn tại việc sao chép tùy tiện và suy diễn chủ quan của một số tác giả.

           Đó là công trình khảo cứu „Sùng chính thư viện“ của tác giả Đào Tam Tỉnh, Văn hóa Nghệ An, số tháng 4/ 2010. Nội dung chủ yếu của bài viết là sắp xếp và trích đoạn các tư liệu  nói về Sùng Chính thư viện lấy trong tác phẩm „La Sơn phu tử“ của học giả nổi tiếng, giáo sư Hoàng Xuân Hãn. „La Sơn phu tử“ được viết sau khi  giáo sư đã sưu tầm tư liệu, khảo sát thực địa, chụp ảnh, vẽ bản đồ có tỉ lệ... vào mùa hè  năm Kỷ Mão1939. Trong „Sùng Chính thư viện“, ông Đào Tam Tỉnh đã nêu ý kiến, thể hiện nhìn nhận của mình  chủ yếu trong hai câu mở đầu giới thiệu địa điểm của thư viện và bốn câu kết luận bài viết. Tiếc rằng những ý kiến, nhìn nhận này lại là những suy diễn tùy tiện, chủ quan, mặc dầu tác giả ghi ở cuối bài là đã tham khảo tác phẩm „La Sơn phu tử“ của Hoàng Xuân Hãn và đã thực hiện „Điền dã thực tế tại núi Bùi Phong, xã Nam Kim, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An“. Ngay câu đầu tiên của bài viết, tác giả đã khẳng định: „Sùng chính Thư viện do vua Quang Trung lập nên, xây dựng ở núi Bùi Phong“. Thế nhưng, phần tư liệu được dẫn trong bài viết này là tờ chiếu của vua Quang Trung lại cho biết:  „Trẫm định đặt Sùng chính Thư viện ở Vĩnh Kinh, tại núi Nam Hoa, ban cho ông làm chức Sùng chính viện Viện trưởng...“. Mặt khác, nếu tác giả xem kỹ  tờ bản đồ vẽ khu vực „trại Bùi – phong“ trong tác phẩm  „La Sơn phu tử“ [8] (trang 1150, tập II) thì sẽ thấy „xã Nam – hoa“  cách „trại Bùi – phong“ khoảng hai cây số có các làng „Yên - vực“, „Yên – vĩnh“, „Yên – sơn“ nằm ở chân “núi Yên“. Từ „trại Bùi – phong“  đi sang xã „Nam – hoa“  phải trèo qua hai dãy  núi  là „Bạch – tượng““Núi Yên“. Cũng  theo bản đồ này và trên thực địa thì „trại Bùi – phong“ nằm giữa núi „Bạch - tượng“ và núi „Thạch – mục“. Cũng theo [8], „Hạnh am ký“ thì: „Phía đông có núi Lạp – đỉnh, phía tây có núi Bạch – tượng, khoảng giữa thấy một núi con, tên gọi Bùi – phong“. Như vậy, nếu cho rằng  vị trí của Sùng Chính thư viện nằm ở làng Yên – vĩnh, xã Nam - hoa thì sẽ phù hợp hơn (các địa danh để trong ngoặc kép trong đoạn này  là giữ nguyên cách viết của giáo sư Hoàng Xuân Hãn).  Còn trong mấy câu kết luận, tác giả lại viết: „Nền nhà Sùng chính Thư viện hiện còn lưu tại núi Bùi Phong với ngổn ngang gạch xây, đá ong... Di tích chỉ còn lại duy nhất bức phong xây gạch có khoét nguyệt hình,... Bên cạnh phế tích Sùng chính Thư viện là khu mộ của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp... . Thiết nghĩ nếu di tích Sùng chính Thư viện được phục dựng thì sẽ thành một điểm lưu niệm, du lịch“. Thế nhưng, khu vực mà ông Đào Tam Tỉnh khẳng định là nền nhà của Sùng Chính thư viện thì đã được giáo sư Hoàng Xuân Hãn mô tả cụ thể kèm theo cả ảnh chụp vào năm 1939 (trang 1153, [8])   trong chính tác phẩm  đã được ông Đào Tam Tỉnh sử dụng làm tài liệu chính cho bài viết, như sau: „Lúc ra khỏi thành Lục niên, ta sẽ thấy trước mặt, về phía Đông Bắc, một ngôi đền cỏn con trên chóp núi không cây. Đó là nhà thờ mà xã Nam – kim đã dựng lên để thờ La – sơn phu – tử.... Ngoài có hai cột hiên xây gạch và cái bình phong có chữ thọ, xây thủng. Trong có bia đá...“, Thế mà phế tích của „ngôi đền cỏn con trên chóp núi không cây“ lại được ông Đào tam Tỉnh suy diễn thành „nền nhà Sùng chính thư viện“. Một số công trình khảo cứu, biên soạn khác của ông Đào Tam Tĩnh cũng có những  suy diễn, sao chép tương tự, xin sẽ được đề cập đến trong một bài viết khác. Và cũng xin được khẳng định thêm là „ngôi đền cỏn con“ này mãi cho đến những năm bảy mươi của thế kỉ trước vẫn còn khá nguyên vẹn.

         Cũng đề cập đến Sùng Chính thư viện, báo Công an Nghệ An số ngày 9/7/2011 đăng bài „La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp với Sùng Chính thư viện“ của tác giả Phan Xuân Thành. Nội dung chủ yếu của bài viết này gần như nguyên xi nội dung của bài „Sùng Chính thư viện“  của tác giả Đào Tam Tỉnh, chỉ khác mấy câu ở cuối bài. Tuy nhiên, trong câu kết của bài viết, nhận định của tác giả Phan Xuân Thành: „Cảm phục tấm lòng và năng lực của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp trong những ngày làm viện trưởng – Viện Sùng Chính dưới triều Nguyễn Quang Trung, nhà thơ Bùi Bật Trực đã ứng tác câu ca: Bốn bể ngẩng trông Thiên Nhẫn đỉnh. Chín trùng trọng vọng Lục Niên quan“ thì bên cạnh sự tùy tiện trong cách viết và sử dụng từ ngữ, sự suy diễn tùy tiện về bối cảnh lịch sử  của tác giả quả là đã đi quá đà. Một bài thơ thất ngôn bát cú của Bùi Bật Trực viết tặng Nguyễn Thiếp  biến thành câu ca ứng tác. Một Bùi Bật Trực  là mưu sĩ tin cẩn của Viêm Quận công Nguyễn Trọng Viêm (cậu ruột chúaTrịnh Sâm) [9], từng làm quan đến Thái bộc tự khanh, Tham tán quân vụ, bị Tây Sơn bắt và tử tiết trên đất Nam Đàn vào năm Đinh Mùi (1787) [2]trước khi vua Quang Trung ban chiếu cho La Sơn phu tử lập Sùng chính Thư viện vào tháng Tám năm Tân Hợi (1791)[8] thì  làm sao bốn năm sau khi đã mất, ông Hương cống Bùi Bật Trực lại  vẫn còn có thể „ứng tác câu ca“ để bày tỏ „Cảm phục tấm lòng và năng lực của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp trong những ngày làm viện trưởng – Viện Sùng Chính“. Tùy tiện hơn nữa là tác giả Thanh Hùng cũng trong một loạt bài viết về La Sơn phu tử  trên www.truyenhinhnghean và trên vinhcity.gov.vn còn phong học vị Tiến sĩ cho ông Hương cống Bùi Bật Trực này.

        Tiếp đến là bài viết  „Danh sỹ Nguyễn Văn Giao qua Đạn như thi thảo“ được đăng tải trên cổng thông tin điện tử của Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Nghệ An, NGHEANDOST số 6 – 2011. Bài viết (không ghi tên tác giả) đáng tiếc là đã có nhiều nhầm lẫn và sai sót, có nội dung chủ yếu là  giới thiệu những bài thơ của Thám hoa Nguyễn Văn Giao đã được dịch và in trong cuốn “Đạm Như thi thảo“,  Nxb Nghệ An, 2010. Ngay từ tiêu đề, tên hiệu của Thám hoa Nguyễn Văn Giao đã bị viết sai (hay in sai?) thành “Đạn như„.

        Khi giới thiệu về danh thần Tống Tất Thắng, tác giả cho biết:“Đó là Tống Tất Thắng, 18 tuổi đỗ Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân làm quan đến Lại bộ thượng thư nhập nội hành khiển tước Nghĩa quận công“.  Thế nhưng, theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam [7] thì chức quan hành khiển „có từ thời Trần, gia thêm danh hiệu Nhập nội hành khiển đồng trung thư môn hạ bình chương sự, đứng thứ hai sau Tể tướng“. Các soạn giả của Bách khoa toàn thư còn cho biết: „Từ thời Lê Thánh Tông (1460 – 1497) không còn chức quan này nữa“. Trong cuốn „Văn bia quốc tử giám“ [5], phần quan chế nhà Trần và nhà Lê, tác giả Đỗ Văn Ninh cũng đã chú giải như vậy. Mặt khác, trong suốt thời gian kể từ khi Tống Tất Thắng đậu Tiến sĩ vào năm Ất Sửu (1505) cho đến khi nhà Lê bị mất ngôi vào tay nhà Mạc và cả hàng mấy chục năm về sau, khi nhà Lê khôi phục được vương quyền, trong ghi chép của Đại Việt sử ký toàn thư [1] đối với khoảng thời gian này cũng không hề có một dòng nào nhắc đến chức quan Nhập nội hành khiển mà chỉ có chức Đông các đại học sĩ nhập thị kinh diên hay Đông các đại học sĩ bồi thị kinh diên (được ra vào cung vua để dạy Thái tử và hầu vua trong việc dùi mài kinh sử). Văn bia đền Thống Chinh ở Nam Đàn do chính Thám hoa Nguyễn Văn Giao soạn thảo [6] cũng như Đại Nam nhất thống chí [2] của Quốc sử quán triều Nguyễn cũng không ghi tước vị này của Tống Tất Thắng. Đành rằng có một số văn bia, tài liệu của một số soạn giả trước đây có chép tước vị này của Tống Tất Thắng nhưng thiết nghĩ hiện nay, trong điều kiện các thông tin rất dễ kiểm chứng, việc chép lại tùy tiện kiểu này là không thể chấp nhận được và cần được biên tập chỉnh sửa trước khi đăng tải.

        Đến phần giới thiệu về dòng họ Nguyễn Trọng, bài viết cho biết: Đó là dòng họ Nguyễn Trọng với ba cha con, chú cháu, ông cháu Nguyễn Trọng Thường, Nguyễn Trọng Đương, Nguyễn Trọng Đường đều đỗ tiến sĩ đời Hậu Lê nổi tiếng với danh hiệu “Tam thế ngũ hoàng hoa” do cả ba người qua các triều vua đều được cử đi sứ nhà Thanh. Năm lần đi sứ đều được vua Thanh gắn 5 bông hoa vàng xứng với câu đối:

                          Quốc thể ngũ hoa trùng cống phỉ,

                          Thư hương tam thế ngũ hoàng hoa.

        Trong đoạn văn trên, đôi câu đối không những bị tác giả bài báo chép sai cụm từ “ngũ hoa”(?) mà việc giải thích nội dung cũng chỉ là sự suy diễn chủ quan và sao chép tùy tiện.

    Năm chữ “Tam thế ngũ hoàng hoa” mà bài báo nhắc đến thì theo tác giả Hồ Khải Đại [4] là 5 chữ Hán được ghi trên bức hoành phi treo ở nhà thờ của dòng họ này tương truyền là do vua nhà Thanh ban tặng. Còn câu đối mà bài báo trích ở đây  theo [3] là câu đối do Lễ bộ Tham tri Phan Huy Đề gửi tặng dòng họ Nguyễn Trọng lúc bấy giờ và nguyên văn như sau:

                    Quốc thể ngũ niên trùng cống phỉ

                    Thư hương tam thế tứ hoàng hoa.

       Năm hay bốn lần đi sứ không phải là vấn đề cần bàn nhưng  việc tác giả bài báo đã dựa theo suy diễn chủ quan của nhà văn Hồ Khải Đại [4] mà chép lại rằng “Năm lần đi sứ đều được vua Thanh gắn 5 bông hoa vàng” thì cần được xem lại. Nghĩa bóng của cụm từ “hoàng hoa” theo điển tích cổ của Trung Quốc là để chỉ việc đi lính thú, về sau còn để chỉ việc đi sứ. Ngày xưa ở Trung  Hoa, khi con trai đến tuổi đi lính thú, thì vào tháng 9 âm lịch, lúc hoa cúc nở vàng, là phải lên đường. Vì thế, đi lính thú được ví von là “hoàng hoa”. Về sau, “hoàng hoa” còn mang nghĩa bóng là nơi xa xôi ngoài biên ải, là tình cảnh tha hương của những người đi sứ. Kinh Thi có câu:

                Người đi lính thú hay đi sứ phương xa nhớ nhà làm thơ hoàng hoa.

         Và Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm trong tác phẩm Chinh Phụ Ngâm nổi tiếng khi nói đến những người lính ở nơi biên cương cũng đã nhắc đến cụm từ “hoàng hoa”:

                             Xót người lần lữa ải xa,

                             Xót người nương chốn hoàng hoa dặm dài.

      Còn với văn thơ cận đại, trong bài “Như Tây nhật trình” viết về chuyến đi sứ sang Pháp, Trần Đình Lượng, anh ruột của nhà cách mạng, nhà viết kịch nổi tiếng Trần Đình Long (1904 – mất tích 1945 do bị Quốc dân đảng bắt cóc), cũng có câu:

                             Đường mây sớm dục xứ trời,

                             Ba lê muôn dặm mấy lời hoàng hoa.

(Ba lê là tên gọi của Paris phiên âm theo chữ Hán)

       Như vậy, có thể khẳng định hoàng hoa trong cụm từ “Tam thế ngũ hoàng hoa” hay trong vế đối “Thư hương tam thế tứ hoàng hoa” là để chỉ việc đi sứ chứ không phải là “vua Thanh gắn bông hoa vàng” như tác giả Hồ Khải Đại suy diễn trong Hương xã Nam Trung và bài báo chép lại tùy tiện như đã trích dẫn ở trên.

        Tiếp theo nữa là bài viết của tác giả Phạm Tuấn Vũ  về thơ của La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp, cũng được đăng tải trên NGHEANDOS,  số 2 - 2012, trong đó có đoạn: "Nguyễn Thiếp có thời gian làm Huấn đạo (quan coi sóc việc học hành của phủ) Anh Sơn nên với vùng đất và con người Nghệ An, ông không chỉ hiểu biết qua sách vở mà còn qua đợt “đi thực tế” lâu dài. Một lần lên núi Đông Chủ, ngọn núi cao nhất trong dãy Thiên Nhẫn, ngắm nhìn hình thể núi, nhà thơ càng cảm nhận sâu sắc về vùng đất địa linh nhân kiệt:

Trung nghĩa Tống Tất Thắng,

Anh hùng Mai Thúc Loan.

Lô Hoa di miếu tại,

Lam thủy đáo kim hoàn.

Tòng lai danh thắng địa,

Chương Đường giáp ngã Hoan.

(Tống Tất Thắng là người trung nghĩa, Mai Thúc Loan là bậc anh hùng. Ngôi miếu còn đó ở Lô Hoa, Nước sông Lam đến nay còn lạnh buốt. Xưa nay nổi tiếng đất danh thắng..."

          Có thể  do chưa tìm hiểu kỹ nội dung của cả bài thơ "Đăng Động chủ sơn" của Nguyễn Thiếp nên trong đoạn văn nói trên, tác giả  Phạm Tuấn Vũ không những đã đưa ra một cách chủ quan bối cảnh và xuất xứ của bài thơ mà phần phiên âm Hán Việt cũng được chép không đúng nguyên bản chữ Hán.Chữ hàn  được chép thành hoàn? Mà nếu là “hoàn” thì sao dịch ra tiếng Việt lại là lạnh buốt? Chắc là tác giả đã chép lại của người khác đã chép sai trước đó? Từ “lô hoa” là hoa cây lau nhưng lại được viết hoa và cho rằng đó là một địa danh. Do vậy, phần dịch ra tiếng Việt đã không phản ảnh được hồn cốt mà Phu tử muốn gửi gắm trong bài thơ này. Điều này cũng đã từng xảy ra đối với một số các tác giả khác khi viết về bài thơ này trước đây như Ninh Viết Giao, Phạm Thanh Tâm, Nguyễn Sĩ Cẩn ...

Nếu đọc toàn văn bài thơ này được chép lại ở trang 1229 của tài liệu đã dẫn [8] thì sẽ thấy La Sơn Phu tử ngay trong hai câu mở đầu (theo nguyên văn và xin được phiên âm Hán Việt):

                               Ngũ đẩu vong sơ chí

                               Tam niên thượng thử sơn

đã nói rất rõ bối cảnh xuất xứ của bài thơ là Phu tử chỉ vì phải lo miếng cơm manh áo nên đã quên chí hướng trước đây và  đã lên núi ở từ ba năm nay rồi, giờ mới leo lên ngọn Động chủ, ngọn núi cao nhất trong dãy núi Thiên Nhận. Hơn nữa, cũng theo [8] thì bài thơ được La Sơn phu tử ghi lại là làm năm Bính Tuất (1766         ). Lúc này ông đang làm tri huyện Thanh Giang (sau đổi thành Thanh Chương) nhưng nhà ở trên núi Thiên Nhận. Hai năm sau đó, năm Mậu Tý (1768), ông từ quan về ở ẩn. Như vậy thì không phải là khi Phu tử  “làm Huấn đạo Anh Sơn”, “qua đợt đi thực tế lâu dài” rồi “một lần lên núi Động Chủ” “ngắm nhìn hình thể núi”“càng cảm nhận sâu sắc về vùng địa linh nhân kiệt” mới viết ra những dòng thơ trên như tác giả Phạm Tuấn Vũ đã suy diễn. Chắc tác giả Phạm Tuấn Vũ lại bắt chước sự suy diễn tùy tiện và cũng rất chủ quan trước đây của tác giả Ninh Viết Giao về bối cảnh ra đời bài thơ này trong cuốn  “Nam Đàn, quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Xin được chép lại nguyên văn những dòng liên quan này của tác giả Ninh Viết Giao trong cả hai lần xuất bản của cuốn sách nói trên: “Đền thờ Tống Tất Thắng ở gần đền thờ Mai Thúc Loan nằm hai bên sông Lam hùng vĩ, một trên núi Quải Bái, một cạnh núi Hùng Sơn. La Sơn Phu tử đi qua nhìn thấy núi sông gắn liền với lịch sử, khiến cho đất nước có linh hồn, cảm khái làm bài thơ:

                                 Trung nghĩa Tống Tất Thắng

                                 Anh hùng Mai Thúc Loan

                                    Lư ba di vũ tại

                                 Giang thủy đáo kim hoàn

                                 Trùng lai danh thắng địa

                                 Chương, Đường giáp ngã Hoan ...”

       Ở đây, tác giả Ninh Viết Giao không những cũng đã tùy tiện đưa ra một cách chủ quan bối cảnh và xuất xứ của bài thơ  mà việc chép lại thơ của La Sơn Phu tử cũng nhầm và sai không thể chấp nhận được. Các chữ được in đậm ở trên  là sai hẳn so với nguyên bản và do vậy các câu thơ sẽ trở nên vô nghĩa hoặc tối nghĩa. Thậm tệ hơn là trong lần xuất bản thứ hai cuốn sách này vào năm 2004, nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh còn lấy câu thơ chép sai Trùng lai danh thắng địa” này đưa vào Lời của nhà xuất bản khi giới thiệu về Nam Đàn: „...Huyện Nam Đàn, trong lịch sử Việt Nam là vùng đất “Trùng lai danh thắng địa”(chẳng lẽ Nam Đàn là mảnh đất danh thắng lặp lại lần nữa?). Và hậu quả đáng tiếc là câu thơ được tác giả Ninh Viết Giao tùy tiện chép sai  này còn được khá nhiều nhà nghiên cứu đưa vào các tài liệu khác như tộc phả của dòng họ Nguyễn Hữu, trang thông tin điện tử „Truyền thuyết long mạch“ (longmachcathung.blogspot.com)... rồi đem ghép cùng một nhận định khác của cụ Phan Bội Châu “Cổ lai đa hào kiệt” để ca ngợi Nam Đàn.

        Gần đây, mở đầu năm 2013 là bài viết „Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng”, đăng trên báo Nghệ An điện tử ngày 1/01/2013 của tác giả Công Kiên. Bài viết này đã có những suy diễn chủ quan, đưa ra những cứ liệu lịch sử khá tùy tiện và chép nguyên văn một số đoạn của các tác giả khác đưa vào bài viết của mình mà không dẫn nguồn.

       Tác giả viết về Tống Tất Thắng như sau: „Cha mẹ ông sinh được 2 người con, ông là con thứ 2. Mặc dù gia cảnh nghèo, mồ côi cha năm 13 tuổi nhưng mẹ ông vẫn quyết tâm nuôi con ăn học thành tài.... Nhờ đó, năm 15 tuổi ông đã thi đỗ Hương Cống. Và 3 năm sau, Tống Tất Thắng có tên trong danh sách bảng vàng của khoa thi năm Ất Sửu (1505) dưới thời Vua Lê Uy Mục, được phong chức Thống Chinh nguyên súy bình Man trước khi lên đường vinh quy bái tổ“. Ngoại trừ mệnh đề „...Tống Tất Thắng có tên trong danh sách bảng vàng của khoa thi năm Ất Sửu (1505) dưới thời Vua Lê Uy Mục“ và việc ông mồ côi lúc còn nhỏ tuổi, nhà nghèo, tất cả nội dung còn lại thể hiện trong đoạn văn trên đều không thể tìm thấy trong bất cứ một nguồn sử liệu đáng tin cậy nào và do vậy, các nội dung này chỉ  là những suy diễn chủ quan, những cách viết tùy tiện của tác giả về các cứ liệu lịch sử. Đấy là chưa kể tác giả đã suy diễn phi lô gích. Đỗ Tiến sĩ lúc mới 18 tuổi thì làm sao có thể „được phong chức Thống Chinh nguyên súy bình Man trước khi lên đường vinh quy bái tổ“ (!?). Và tác giả lôi ở đâu ra cái chức „nguyên súy bình Man“ sặc mùi đại bá đem gán cho Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng?.

         Còn nữa. Các bộ chính sử của nước ta [1] đều cho biết là vua Lê Trang Tông lên ngôi trên đất Ai Lao vào năm  Quí Tị (1533) và băng hà vào năm Mậu Thân (1548). Thế mà tác giả lại viết: Đến năm 1553, trước công đức của Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng đối với triều đình, đất nước và nhân dân, Vua Lê Trang Tông đã xuống chỉ cho các làng ở vùng đất "Chín Nam" ngày nay lập đền thờ và hàng năm tổ chức tế lễ vào dịp 15- 2 Âm lịch theo nghi thức quốc tế (lễ tế mang tầm quy mô quốc gia). Làm sao lại có thể  năm1553 „vua Lê Trang Tông đã  xuống chỉ“ khi mà nhà vua đã qui tiên được 5 năm? Hơn nữa, trong mấy chục sắc phong của các triều vua phong Thần cho Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng thì đạo sắc xưa nhất còn được lưu giữ là đạo sắc của vua Cảnh Trị năm thứ 8 ban tặng (vào năm 1670). Đạo sắc này  là „Sắc phong“ cho Thống Chinh chiêu nghĩa Tống Phúc thần. Theo các đạo sắc được biết đến hiện nay thì sau vua Lê Trang Tông gần ba trăm năm, mãi đến triều Nguyễn, cụ thể là trong đạo sắc của triều vua Minh Mệnh năm thứ 3 (1822), cùng với các „Sắc phong“ mới bắt đầu có „Sắc chỉ“ có nội dung „Sắc chỉ Nghệ An tỉnh, Thanh Chương huyện, Lương Trường xã, đồng xã tứ thôn y cựu phụng sự“. Tiếp theo các đời vua nhà Nguyễn như Thiệu Trị năm thứ 3 (1843), Tự Đức năm thứ 33 (1880).... bên cạnh „Sắc phong“ cho đền Thống Chinh đều có các „Sắc chỉ“ tương tự.

        Khi đền Thống Chinh bị hư hại, bà con họ Nguyễn Hữu là hậu duệ của Hoàng Giáp Nguyễn Hữu Lập, xuất phát từ lòng ngưỡng mộ đối với Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng, đã kính cẩn rước các đồ thờ tự của đền Thống Chinh về cất giữ cẩn trọng trong nhà thờ của họ tộc mình cho đến nay, chứ đâu phải là „trong cảnh mưa bom bão đạn, đền Thống Chinh bị xuống cấp, con cháu dòng họ Tống và người dân địa phương buộc phải sơ tán các đồ thờ tự, tế khí về nhà thờ họ Nguyễn Hữu“  như tác giả Công Kiên đã suy diễn, bởi vì lúc bấy giờ, không hề có một người nào là con cháu họ Tống biết cũng như có điều kiện tham gia vào công việc trọng đại này.

       Khi viết về văn bia của đền Thống Chinh, tác giả Công Kiên chép: "Các danh sĩ, thi nhân đã từng đề thơ ca tụng lòng trung nghĩa và công đức to lớn không bao giờ phai của Ngài. 350 năm đã trải qua mà chính khí vẫn vang danh khiến lòng người càng mến mộ, khiến chúng ta vẫn cảm thấy như Người còn ở trên đời, chúng ta vẫn còn được gặp Người ở đây, trên bảng vàng khoa cử có tên Người ở hàng đầu.
Để tỏ lòng thương nhớ Người, đầu triều vua Tự Đức, nhà vua đã giao cho dân vùng quê cũ tôn tạo di tích ở Đàm Thủy, làm miếu, dựng bia đá đặng thể hiện tấm lòng tôn phục, thương nhớ kẻ hiền tài, đến mùa Thu năm Qúy Sửu rước anh linh Ngài về đền để tỏ lòng ngưỡng vọng.

Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng tấm gương trung liệt của Ngài vẫn mãi mãi trong xanh như nước hồ Đàm Thủy".

      Về đoạn dịch văn bia nói trên, tác giả ghi là „tạm dịch“ nhưng thực chất đã chép lại không sai chữ nào từ một cuốn sách viết về Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng đã được nhà xuất bản Thế giới in ấn và phát hành từ năm 2010 cũng như đã được đăng tải trên trang thông tin điện tử của dòng họ Tống Trần (www.tongtran.net) nhưng đã không hề được tác giả Công Kiên dẫn nguồn.

        Trước đó hai năm, cũng trên báo Nghệ An ngày 27/10/2011, tác giả Công Kiên còn có bài viết „Thanh Lương – Vùng quê giàu truyền thống cách mạng“ cho biết ở Thanh Lương (Thanh Chương) có dòng họ Chu  „đã sinh ra những bậc danh nhân, công thần của đất nước. Người đầu tiên là Tiến sĩ Nghĩa Quận công Chu Tất Thắng, đỗ đại khoa lúc mới 18 tuổi, văn võ song toàn, lập được nhiều chiến công dưới thời Hậu Lê“. Trong lịch sử khoa bảng thì ở Nghệ An chỉ có một người duy nhất đỗ Tiến sĩ lúc 18 tuổi, được phong Nghĩa Quận công. Đó là là Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng mà bia đền Thống Chinh đã ghi lại như tác giả đã giới thiệu. Như vậy thì căn cứ vào đâu mà tác giả lại mâu thuẫn với chính mình khi viết rằng còn có Tiến sĩ Nghĩa Quận công Chu Tất Thắng?

         Chắp nối cổ thư để giải mã sự thật của lịch sử là một công việc vô cùng nan giải. Trước đây cũng như hiện nay, trong không ít các công trình, các tác phẩm của các nhà nghiên cứu nổi tiếng vẫn tồn tại những suy diễn chủ quan vô lí và sự sao chép tùy tiện. Tuy vậy, trong điều kiện tra cứu thông tin khá thuận tiện của „thế giới phẳng“ hiện nay, mong rằng  các nhà nghiên cứu khi công bố những bài viết mang tính chất khảo cứu về các vấn đề lịch sử, văn hóa cần tránh việc sao đi chép lại một cách tùy tiện và suy diễn chủ quan như đã nêu ở trên./.

 

Tài liu tham kho:

[1] Đại Việt sử ký toàn thư. Nxb KHXH, Hà Nội, 1993.

 [2]Đại Nam nhất thống chí . Viện Khoa học Xã hội Việt Nam – Viện Sử học. Nxb Thuận Hoá, 1997.

 [3] Nam Đàn xưa và nay. Nxb Văn hóa Thông tin , Hà Nội, 2000.

 [4] Hưong xã Nam Trung. Hồ Khải Đại. Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.1996

 [5] Văn bia Quốc tử giám Hà Nội. Đỗ Văn Ninh. Nxb Văn Hóa Thông tin, Hà Nội, 2000.

 [6] Văn bia đền Thống Chinh tại xã Nam Lộc, Nam Đàn, Nghệ An

 [7] Từ điển Bách khoa thư Việt Nam. Website của Viện Từ điển Bách khoa thư Việt Nam.

[8] La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập II, Nxb Giáo dục, 1998.

[9] Hoàng Lê nhất thống chí, Nxb Văn học, Hà Nội, 2001.

 

(Tạp chí Văn hóa Nghệ An, số 245, ngày 25 tháng 5 năm 2013)



Facebook Comments




0 người đang xem chủ đề

0 thành viên, 0 khách, 0 thành viên ẩn danh.


TEXT LINK:
- Nhạc vàng