Đến nội dung





Hình ảnh

Nhà thờ Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng ở Bình Hòa


  • Please log in to reply
Chưa có bài trả lời

#1 Tống Trần Tùng (Gửi lúc 04:18PM, 05-04-2010 )

    Lính mới

  • Thành Viên
  • Pip
  • Bài viết: 21

Nhà thờ Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng ở Bình Hoà
Bình Hoà là một làng cổ thuộc tổng An Ấp trước đây, nay là các xóm 1, 2, 3, 4 và 5 thuộc xã Sơn Hòa huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Đến khoảng cuối thế kỷ 19, làng này có tên gọi là làng Thái Hoà. Có thể khi vua Thành Thái lên ngôi (1889), vì phạm vào tên huý nên làng phải đổi tên từ Thái Hoà thành Bình Hoà chăng? Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, hai làng Bình Hoà và Gôi Mỹ (không phải là Gôi Vỵ như một số tài liệu đã viết) sáp nhập thành xã Mỹ Hoà. Sau khi hòa bình lập lại năm 1954, xã Mỹ Hòa được đổi tên thành xã Sơn Hoà theo nguyên tắc tất cả các xã của huyện Hương Sơn đều bắt đầu bằng chữ Sơn. Làng Bình Hoà giờ chỉ còn lại trong ký ức của những thế hệ cao tuổi. Hiện nay, xã Sơn Hoà trở thành trung tâm của 6 xã của vùng Hạ Hương Sơn nằm bên tả ngạn sông Ngạn Phố là Sơn Ninh, Sơn Thịnh, Sơn Hoà, Sơn An, Sơn Lễ và Sơn Tiến. Nơi đây có trường Phổ thông trung học Lê Hữu Trác 2 dành cho học sinh của cả 6 xã được thành lập từ những năm tám mươi của thế kỷ 20 tại vị trí trước đây là đền làng Bình Hòa mà những năm năm mươi của thế kỷ hai mươi còn sững sững những cây lim xanh cổ thụ có chu vi đến mấy người ôm. Cạnh đó là trường Trung học cơ sở mang tên nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện, một người con ưu tú của xã này. Sơn Hoà là một vùng hiếu học nổi tiếng của Hương Sơn với các dòng họ Đinh Nho, Nguyễn Khắc, Tống Trần, Hà Học, Phan Huy v. v. luôn có những người đỗ đạt cao trong khoa cử trước đây cũng như ngày nay. Kể từ năm 1998, sau khi cầu treo Nầm được nâng cấp và con đường ô tô liên xã Nầm - Lệ - Tiến được xây dựng thì giao thông đến với 6 xã này trở nên rất thuận tiện, điều mà trước đó bao thế hệ của những người dân ở 6 xã này chưa bao giờ được thụ hưởng. Chợ Gôi ở Sơn Hoà là một chợ cổ, họp vào ngày lẻ theo âm lịch, là một chợ sầm uất và nổi tiếng của vùng này với các sản vật như cau, trầu, chè mít, thịt dê thui và các loại bánh kẹo đặc sản như kẹo lạc nấu bằng mật mía Văn Giang nổi tiếng, bánh gói ấp làm bằng bột gạo ré đỏ, bánh phỏng bằng bột nếp rồng v. v.

Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, tại chợ Gôi có một ngôi đình lớn là nơi tế thần của cả tổng An Ấp. Hàng năm vào rằm tháng giêng âm lịch, các vị thần bao gồm cả thiên thần và nhân thần được thờ trong các đền miếu của các làng trong tổng An Ấp, gồm cả 6 xã hiện nay, được các chức sắc cùng nhân dân các làng với mũ áo tề chỉnh, long trọng kiệu rước bằng cả đường thuỷ trên sông Ngạn Phố và bằng đường bộ về đình chợ Gôi để tổ chức tế lễ. Hàng chục vị thần được thờ phụng ở các đền miếu và các nhà thờ họ Tống, họ Trần v.v. ở làng Văn Giang, đền Bạch Vân, nhà thờ họ Lê, họ Nguyễn Xuân v.v. ở làng Thịnh Xá, đền Gôi Mỹ, nhà Thánh, nhà thờ họ Đinh Nho, họ Nguyễn Khắc v.v. ở làng Gôi Mỹ, đền Bình Hoà, đền Xuân Lưu, nhà thờ họ Tống, họ Hà, họ Phan v.v. ở làng Bình Hoà, đền Xuân Trì, nhà thờ họ Lê, họ Nguyễn ở Kẻ E, đền Yên Bài ở làng Yên Bài, đền Kim Qui thờ Nguyễn Tuấn Thiện ở làng Ninh Xá, đền Thọ Lộc ở làng Thọ Lộc v.v. đều được rước về đình chợ Gôi. Trong các vị nhân thần được kiệu rước và tế lễ ở đình chợ Gôi trước đây, người ta thường kể nhiều về bà Tiết phụ. Theo Đại Nam nhất thống chí thì nữ thần vốn là bà Phan Thị Viên, làm thiếp của Tiến sĩ Đinh Nho Hoàn người làng Gôi Mỹ lúc bà mới 16 tuổi. Năm Ất Mùi (1715), Lại bộ Hữu thị Lang, Thượng bảo Tự Khanh Đinh Nho Hoàn được cử làm phó sứ trong sứ bộ sang nhà Thanh, không may lâm bệnh chết dọc đường. Khi quan tài đưa về đến làng Gôi Mỹ, bà Phan Thị Viên thắt cổ chết theo chồng. Triều đình phong tặng bà là Á Thuận Phu nhân, cho lập đền thờ và ban cho biển ngạch Tiết phụ và 20 mẫu ruộng cho việc thờ tự. Các nhân thần khác có công với nước như Khai quốc công thần nhà Lê Nguyễn Tuấn Thiện, Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng, Thượng bảo Tự khanh Đinh Nho Hoàn v.v. đều được rước về đình chợ Gôi tế lễ.
Lễ vật quan trọng nhất là một con bò mộng được thui chín bằng lửa của rơm rạ và những bó nứa khô được các tráng đinh lực lưỡng quạt cháy rực lên. Người ta dùng dao sắc lách và cắt ở vùng bụng và ở gần đùi sau của con bò ra một khoanh thịt có bề rộng khoảng 3 đốt ngón tay, sao cho khoanh thịt vừa có đủ bì ở phía ngoài và đủ dài để quấn vòng quanh ở khoảng giữa thân con bò, ôm lấy con bò từ trên lưng xuống bụng như một cái đai. Sau lễ tế thần, cái đai nói trên được cắt thành những miếng thịt bò hình vuông. Đây là phần cỗ quí nhất mà chỉ có các bậc tiên chỉ, các bậc chức sắc có phẩm trật nhất định theo qui định của hàng tổng mới được chia phần. Chưa rõ tục lệ này ở đây mang ý nghĩa như thế nào, nhưng khi nghe các bậc cao niên kể lại, chúng tôi thường liên tưởng đến câu chuyện trong tác phẩm “Việc làng” của Ngô Tất Tố. Chỉ khác một bên là cái đầu gà được chặt thành những miếng đều nhau và mỏng như tờ giấy, còn đây là những miếng thịt bò thui có đủ cả bì, cả thịt, hình vuông, mỗi chiều chỉ bằng vài ba đốt ngón tay. Xem ra thì việc làng ở các vùng miền khác nhau cũng có những nét văn hóa khác nhau. Hiện nay ở xã Sơn Hòa, các đền Bình Hòa, Chợ Gôi và nhà Thánh không còn mà chỉ còn lại đền Gôi Mỹ. Tuy vậy, còn một tấm bia đá ghi danh các nhà khoa bảng của hai làng Bình Hòa và Gôi Mỹ, trong đó có tên của Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng vẫn còn được lưu giữ.
Trước khi đề cập đến nhà thờ họ Tống ở Bình Hòa thờ Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng là Thủy tổ của dòng họ Tống ở đây (tức là ông Tổ khởi thủy của cả dòng họ để phân biệt với Tiên tổ là ông tổ của chi họ Tống ở Bình Hòa sẽ được nói đến sau này), xin được đề cập đến sự hình thành của chi họ Tống ở Bình Hòa. Chi họ này được hình thành vào khoảng giữa thế kỷ 17, tức là khoảng hơn một trăm năm sau khi Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng qua đời. Dựa theo các bản tộc phả họ Tống còn được lưu giữ hiện nay, xin được chắp nối để tóm lược quá trình hình thành chi họ Tống ở Bình Hòa như sau:
Khoảng giữa thế kỷ thứ 17, có ông Trần Xuân Toàn, người họ Trần gốc họ Tống ở Văn Giang, là người học giỏi có tiếng, đậu Cống sinh (Cử nhân), là Giám sinh Quốc tử giám. Năm Canh Tuất (1670), đời vua Lê Huyền Tông, ông Toàn cùng đi thi Hội với ông Đinh Nho Công. Tại khoa thi đó, ông Đinh Nho Công đỗ Tiến sỹ, còn ông Toàn thì không đỗ. Ông Toàn về quê dạy học ngay dưới chân núi Thiên Nhẫn, nơi ngày nay có địa danh là “Nền nhà” thuộc làng Văn Giang. Tại đây còn có một tảng đá lớn, bằng phẳng, có hình dấu chân người in sâu vào đá thấy rõ cả đường vân của gan bàn chân. Nhân dân làng Văn Giang thường gọi là “bàn chân cố Cống” và “Nền nhà” chính là nơi trước đây ông Toàn dạy học. Người đân ở đây còn đồn rằng ban đêm khi đi qua đây, thỉnh thoảng nghe được tiếng ông dạy học và tiếng sĩ tử đọc bài. Một số cụ già ở Sơn Thịnh còn kể lại rằng khi cùng với ông Đinh Nho Công đi thi Hội, ông Toàn đã biết trước là ông Công sẽ thi đỗ Tiến sỹ , còn mình thì sẽ bị đánh hỏng. Và ông Toàn đã dặn ông Công là nếu ông Toàn chết trước thì khi nào ông Công trông thấy một đám mây trắng sà thấp xuống gần mặt đất ở chỗ nào thì xây cho ông Toàn cái miếu thờ ở đó. Quả nhiên ông Toàn chết trước. Lúc này ông Đinh Nho Công giữ chức Thiên đô ngự sử đã đứng ra xây dựng cho bạn mình một cái am gọi là am Bạch Vân ngay trong khuôn viên Văn chỉ của làng Thịnh Xá, tức là nhà Thánh của làng. Về sau người ta còn gọi nhà Thánh của làng Thịnh Xá là đền Bạch Vân (đền mây trắng). Không rõ câu chuyện này hư thực ra sao, nhưng có một điều đã được nhân dân vùng này ghi nhận là tình cảm đồng môn thân thiết giữa Tiến sỹ Đinh Nho Công và Cống sinh Trần Xuân Toàn. Chính vì tình cảm này mà sau đó, ông Đinh Nho Công đã nhận ông Đâu là cháu họ của ông Trần Xuân Toàn làm con nuôi.
Cũng theo gia phả họ Tống ở Bình Hòa thì ông Đâu là con một bà thiếp của ông Trần Xuân Nguyên. Ông Trần Xuân Nguyên có thể là anh em với ông Trần Xuân Toàn. Theo các bản phả họ Tống và theo ghi chép các bậc tiên hiền của làng Văn Giang thì ông Trần Xuân Nguyên đậu Cống sinh, là Giám sinh Quốc tử giám ở ước lệ đường (?). Còn bà thiếp sinh ra ông Đâu là người làng Gôi Mỹ. Ông Đâu và mẹ ông không ở làng Văn Giang với chồng mà vẫn ở lại làng Gôi Mỹ, và ông Đâu được Tiến sỹ Đinh Nho Công nhận làm con nuôi. Cũng theo phả họ Tống ở Bình Hòa thì có một lần ông Đinh Nho Công mời một thầy địa lý Tàu (Trung Quốc) về ở trong nhà để tìm đất đặt mộ các bậc tiền nhân. Ông Đâu được giao phục vụ thầy địa lý này. Biết ông Đâu là con nuôi, nhưng diện mạo khôi ngô, lại có tư chất thông minh, nên thầy địa lý khuyên ông Đinh Nho Công nên cho ông Đâu ra ở riêng để tránh phải ganh đua với con cháu họ Đinh sau này. Xin được nói thêm là ông Đinh Nho Công chính là thân phụ của Tiến sỹ, Thượng bảo Tự khanh Đinh Nho Hòan, chồng bà Tiết phụ được nói đến trong phần tế thần ở đình chợ Gôi. Ông Đinh Nho Công bèn thu xếp cho hai mẹ con ông Đâu ra ở riêng tại xứ Bến Sít thuộc làng Thái Hòa, một bến sông của một nhánh sông từng tồn tại trước đây của con sông Ngạn Phố, nay có tên là Bàu Hạc. Từ đó, chi nhánh họ Tống ở Bình Hòa được bắt đầu hình thành và phát triển với vị Tiên tổ là ông Đâu. Lúc này ông Đâu vẫn mang họ Trần, nhưng phả họ Tống ở Bình Hòa được chép về sau nên Tiên tổ trong Phả mới có tên là Trần Tống Đâu. Cũng theo bản Tộc Phả này thì ông Đâu có ba người con trai là các ông Trần Xuân Huyên, Trần Viết Nhã và Trần Tử Hoán. Ông Trần Xuân Huyên làm nghề thuốc. Năm Bính Dần, đời vua Cảnh Hưng năm thứ 7 (1746) đã được nhà vua ban sắc phong là Lương Thái y
Nội dung sắc phong tạm dịch như sau: “Sắc Xuân Huyên tức Vị ở thôn Thái Hòa, xã An ấp, huyện Hương Sơn đã có công tìm tòi và phổ cập các phương thuốc hay, lại có nhiều đóng góp tiền của dâng lên để dùng cho việc nước, nay đặc ân phong làm Phó lương y, tước Nam để làm tướng sĩ Lương Thái y. Ngày 27 tháng tư, niên hiệu Cảnh Hưng thứ bảy”. Còn ông Trần Viết Nhã thì theo nghề võ. Năm 1751, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 15, được vua Lê Hiển Tông ban sắc phong là Phó Thiên hộ, Tráng tiết tướng quân, Huyền trung hầu.
Các triều vua nhà Nguyễn sau này như Duy Tân, Thành Thái, Khải Định v.v đều có sắc phong cho hai vị này. Nhà thờ họ Tống ở Bình Hòa còn lưu giữ được các đạo sắc này. Người con trai thứ ba là ông Trần Tử Hoán theo nghề văn, đậu Đích thống hiệu sinh và làm Chánh tổng Tổng An Ấp thời đó.
Từ thân phận là một người con nuôi trở thành thân phụ của ba người con trai đều có danh phận, tất nhiên việc thờ phụng tổ tiên trong đại gia đình của ông Đâu trở thành việc hệ trọng. Việc xin đổi sang họ Trần Tống, lấy chữ Tống làm chữ đệm để ghi nhớ tổ tiên là Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng chắc chắn đã được thực hiện trong thời gian này. Phả họ Tống ở Bình Hòa bắt đầu dùng họ Trần Tống kể từ các thế hệ thứ 3 với ông Đâu là thế hệ thứ nhất, mà trong Phả được gọi là Tiên tổ. Nhà thờ họ Tống ở Bình Hòa thờ Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng chắc cũng được xây dựng trong khoảng thời gian này, tức là khoảng nửa sau của thế kỷ 18. Qua nhiều lần tôn tạo, trùng tu, hiện còn có thể xác định được một số niên đại thông qua các dòng chữ khắc trên các bộ phận của nhà thờ, đặc biệt là trong văn bia của tấm bia đá đặt ở bên trong nhà thượng điện. Theo năm tháng ghi trên văn bia thì nhà thờ này được trùng tu và tôn tạo khá qui mô, dựng bia vào năm Đinh Mão triều vua Tự Đức (1867), tức là khoảng một trăm năm sau khi xây dựng lần đầu và mười bốn năm sau khi đền Thống Chinh được trùng tu. Và mười bốn năm sau khi trùng tu, khắc dựng bia, đến năm Tân Tỵ triều vua Tự Đức (1881) thì các gian bái đường được xây dựng. Trên xà ngang của các gian bái đường này có dòng chữ Hán ghi rõ: „Tân Tỵ Tự Đức tạo“. Các gian bái đường này đến năm Giáp Thân triều vua Bảo Đại (1944) lại được sửa sang. Dòng chữ Hán trên xà ngang phía bên trái còn ghi rõ: „Giáp Thân Bảo Đại trùng tu“. Nhà thờ tọa lạc trên một gò đất cao, ngoảnh mặt về hướng Đông Nam. Mặt trước là một cánh đồng lúa khá rộng có tên là Đồng Bãi mà trước đây có thể là bãi bồi của một con sông nhánh cổ của sông Ngạn Phố nên mới có tên gọi như vậy Con sông nhánh cổ đó có tên gọi hiện nay là Bàu Hạc, có thể là do uốn khúc quanh co như cổ và đầu của một con chim Hạc mà Đồng Bãi là thân mình của con chim Hạc đó. Gò đất cao của nhà thờ đúng vào vị trí lưng con Hạc. Đúng là „Hạc giá Tiên du“. Các bậc tiền nhân khi chọn địa thế để xây dựng nhà thờ quả là cẩn trọng. Đứng trước cổng nhà thờ này, phóng tầm mắt ra phía trước là có thể bao quát được con sông Ngạn Phố trong vắt uốn khúc quanh co qua những vườn cây xanh tốt, mượt mà của vùng Hạ Hương Sơn. Xa hơn nữa là dãy núi Mồng Gà lịch sử đã đề cập ở trên và núi Kim Sơn, còn gọi là núi Vằng thông reo vi vút, dưới chân núi là Vực Nầm, nơi ghi dấu trận Khuất Giang lịch sử của đội quân Cốc Sơn và nghĩa quân Lam Sơn. Đi trên quốc lộ 8 cũ, qua đoạn cầu Cửa Khâu trước đây, mà nay đã thay thế bằng một đoạn đường đắp cao, phóng tầm mắt về hướng Tây là có thể nhìn thấy toàn cảnh ngôi nhà thờ họ Tống xa xa với tòa cổng chính hai tầng mái cong và những đầu đao cách điệu hình rồng. Chính giữa phía trên cổng chính hình vòm cong có khảm bốn chữ Hán cỡ lớn “宋 相 公 词" (Tống Tướng công từ - nhà thờ Tướng công họ Tống).
Hai bên toà cổng chính khắc đôi câu đối chữ Hán, phiên âm Hán Việt như sau:
Chính khí trường tồn thiên trụ tôn địa duy lập,
Cao môn hữu kháng kính nội trực nghĩa ngoại phương.
Xin được tạm dịch nghĩa là:
Chính khí mãi còn để làm nên cột rường trời đất,
Cổng đền rộng mở cho thẳng ngay nền nếp trong ngoài.
Hai bên phía trong cổng chính là đôi câu đối, phiên âm Hán Việt là:
Cao đại thức kim môn cái mã,
Phong lưu do tạc hộ y quan.
Xin được tạm dịch nghĩa là:
Nay ngựa xe nhộn nhịp trước cổng đền,
Xưa áo mão phong lưu nơi trướng phủ.
Bước qua cổng nhà thờ là một sân cỏ khá rộng, tiếp đến là nhà bái đường. Hai bên cột của bái đường là đôi câu đối:
Ngưỡng tiền quan đại khoa đại tiết nghĩa,
Dật tử phái bảo dân bảo tử tôn.
Xin được tạm dịch nghĩa là:
Rạng gương xưa, sáng ngời khoa danh, tiết nghĩa
Đội ơn nay, chở che con cháu, dân lành.
Phía trong bái đường là các bệ thờ và hai miếu thờ hai bên. Miếu thờ phía bên phải bệ thờ chính là miếu thờ Tráng tiết tướng quân Huyền Trung hầu Trần Viết Nhã. Miếu thờ này được xây dựng vào mùa Hạ năm Nhâm Tý triều vua Duy Tân (1912), trên xà gỗ ở phía trên chính diện của miếu thờ có khắc dòng chữ Hán: „Duy Tân Nhâm Tý trọng Hạ tạo“ (xây dựng vào giữa mùa Hạ năm Nhâm Tý triều vua Duy Tân). Năm 1912 là năm mà theo phả của họ Tống ở Bình Hòa cũng chính là năm họ Trần Tống được nhà vua cho đổi lại thành họ Tống Trần. Còn miếu thờ bên trái là miếu thờ Tổ Cô Ngọc Nữ Quế Hoa Công chúa Tôn Thần, có thể đã được dựng vào năm 1925 sau khi một gia đình họ Tống tổ chức cầu thần được thần linh cho biết là họ còn có một bà Tổ Cô có tên là Quế Hoa Công chúa, nên miếu thờ này được dựng để thờ phụng bà.
Phía trong cùng của nhà thờ là gian Thượng điện thờ Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng. Mặt chính hai cột hai bên cửa vào Thượng điện là đôi câu đối:
Thiên khải văn đàn kinh thập thế,
Địa chung hoà khí hợp tam chi.
Tạm dịch là:
Trời tạo lập văn đàn đã trải mười thế hệ,
Đất kết tinh hoà khí nay sum họp ba chi.
Xin được bàn luận đôi điều về đôi câu đối này. Ngoài vị trí được khắc trang trọng ngay trên hai cột hai bên cửa chính của Thượng điện, hai câu đối này còn gửi gắm những thông điệp lịch sử liên quan đến sự hình thành và phát triển của các thế hệ hậu duệ của Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng ở làng Thái Hòa lúc bấy giờ. Có thể “ba chi” ở đây là ba chi họ là hậu duệ của ba người con trai của ông Đâu, trong đó ông con trai cả Trần Xuân Huyên đã được triều đình nhà Lê phong là Lương Thái Y vào năm 1746 và ông Trần Viết Nhã được phong là Tráng tiết tướng quân, Huyền Trung hầu vào năm 1751 như đã đề cập ở phần trên. Còn “mười thế hệ” có thể là tại thời điểm câu đối này được sáng tác thì tộc phả của họ Tống vẫn còn được lưu giữ và tính từ Thủy tổ Tống Tất Thắng thì đến thời điểm đó là đời thứ mười. Nếu lấy bình quân một thế hệ là khoảng 30 năm thì năm câu đối này được sáng tác sẽ là vào khoảng năm 1787 (1487 là năm sinh của Thủy tổ Tống Tất Thắng + 10 thế hệ X 30 năm = 1787). Như vậy, qua câu đối này, có thể tạm suy đoán là cho đến khi ông Đâu lên định cư ở Thái Hòa, tức Sơn Hòa ngày nay, thì hậu duệ của Tống Tất Thắng đến đời ông Đâu là đời thứ tám và các cháu gọi ông Đâu bằng ông, đời thứ mười, là những người đầu tiên xây dựng nên nhà thờ này cũng như đã sáng tác câu đối này. Đối chiếu với các bản tộc phả của họ Tống ở Sơn Hòa thì đó là các vị tiên liệt thuộc đời thứ 3 kể từ ông Đâu là đời thứ nhất. Trong số các vị tiên liệt này có ông Trần Dưỡng Hạo là con trai ông Trần Viết Nhã đậu Đích thống sinh đồ khoa Quí Dậu (1777), làm Tổng giáo tổng An Ấp; ông Trần Quí Diễn là con trai ông Trần Tử Hoán đậu Cống sinh (Cử nhân, không rõ khoa thi), giữ chức Huấn đạo huyện Hương Sơn, sau thăng Đốc học, được phong Linh Phù và Đoan Túc; ông Trần Tống Lý, con ông Trần Tử Hoán, cũng đậu Cống sinh (không rõ khoa thi, giữ chức Linh sử cai hợp (?). Chắc chắn là một trong ba vi tiên liệt này đã là người sáng tác đôi câu đối này.
Còn mặt bên của hai cột này là đôi câu đối:
Nam Hoa triệu thỉ diên văn mạch,
Đông Giáp phỉ thừa điện phúc cơ.
Xin được tạm dịch
Xứ Nam Hoa khởi mạch văn thần,
Miền Đông Giáp giữ nền phúc ấm.
Nam Hoa ở đây là Tổng Nam Hoa, sau đổi tên là xã ghép Nam Hoa Thượng, tức là Trung Cần, quê hương bản quán của Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng, là Thủy tổ được thờ trong Thượng điện của nhà thờ này. Và như vậy thì Đông Giáp phải là địa danh của nơi nhà thờ này đang tọa lạc. Phải chăng vùng đất xây dựng nhà thờ họ Tống ở Thái Hòa trước đây có tên là Đông Giáp? Chỉ biết rằng đằng sau gò đất xây dựng nhà thờ này có một cái “bàu” bắt nguồn từ cánh đồng có tên là Đồng Bãi ở phía trước nhà thờ nối tiếp với Bàu Hạc và chảy xuôi đến tận Đồng Vực nằm ở cuối xã Sơn Hòa và cái bàu này có tên gọi là Bàu Đông. Có lẽ địa danh Đông Giáp có liên quan đến cái tên Bàu Đông này.
Phía trong Thượng điện treo đôi câu đối khắc trên ván gỗ:
Trung hiếu đại danh thuỳ vũ trụ,
Hoà bình cảnh phúc thọ vân nhưng.
Tạm dịch là:
Trung hiếu sáng danh trùm vũ trụ,
Yên vui để phúc truyền cháu con.
Linh tọa, ngai thờ, hương án, các đồ tế khí, sắc phong của các triều đại và bằng công nhận di tích lịch sử văn hoá của Bộ Văn hoá và của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh… được lưu giữ trong gian Thượng điện này. Trong Thượng điện còn có một tấm bia đá lớn khắc chữ Hán có tiêu đề „Tống Tiến sĩ thế hưởng bi“, được khắc dựng vào năm Đinh Mão (1867)
Nội dung văn bia xin được tạm dịch như sau:
„Triều Tự Đức mùa Xuân năm Đinh Mão
Bia Tiến sĩ họ Tống thế hưởng
Tôn thần họ Tống quê ở xã Trung Cần huyện Thanh Chương từ nhỏ đã nổi tiếng thần đồng. Năm 18 tuổi triều Lê Đoan Khánh đậu Tiến sĩ khoa Ất Sửu. Được phong chức Thượng thư bộ Lại, Nhập nội Hành khiển kiêm Đông Các Đại học sĩ. Do cầm quân dẹp giặc Chiêm Thành lập nên công trạng lớn nên được phong Nghĩa Quận công. Sau lại phong Đô nguyên soái thống lĩnh binh mã trong thiên hạ đi đánh Ai Lao, Bồn Man, quân đi tới đâu giặc tan tới đó, được gia phong Thái Bảo Lộc Quận công, được mấy năm mất tại Quải Bái Sơn. Đến năm Nguyên Hòa lại hiển linh để dẹp nhà Mạc, lấy ngọn cờ đỏ nhỏ làm hiệu lệnh liên tiếp giành thắng lợi, dẹp tan giặc, được phong Phúc thần, lại gia phong Thống Chinh Chiêu Nghĩa do công lao phò vua dựng nghiệp, giữ nước yên dân, khoan dung độ lượng, công minh chính trực, trí dũng hơn người, đức cao nghĩa cả, tiếng thơm truyền mãi cho đơì sau, được mọi người tôn thờ, kính trọng. Ngài còn được suy tôn là Thượng, Thượng, Thượng đẳng Tối linh Đại vương, được triều đình đặc cách gia phong Trung thần phò vua giúp nước và sắc chỉ cho ba làng thuộc xã Lương Trường cùng phụng thờ, tế lễ. Mộ tổ đặt trong vườn lăng của chùa Quỳnh Trai thuộc xã Trung Cần. Trước cửa đình (Trung Cần) Giải nguyên họ Lê cho xây một đàn tế thần. Vào ngày lễ tết, dân trong ấp họp mặt cũng lễ. Thám hoa Nguyễn và Hoàng giáp Nguyễn cũng cho xây ở Chi Linh một đàn tế thần và dựng bia đá đề năm chữ lớn ghi lại công tích của Tướng công họ Tống. Trên bia còn khắc tên tuổi, khoa bảng đỗ đạt, đức độ trung nghĩa của Ngài, lại còn ghi những bài thơ phú ca ngợi công đức đều như non cao biển rộng của Ngài cho người đời ngưỡng mộ, tôn thờ.
Phụng bái“
Xin được có đôi lời về những nội dung được khắc ghi trong văn bia này. Nếu căn cứ vào các di tích thờ phụng Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng ở Nam Đàn còn tồn tại cho đến ngày nay như đã được khảo sát và đề cập ở các phần trên thì bia đá đề năm chữ lớn „Tống Tiến sĩ di tích“ là do Hương lão Nguyễn Học Hiệu soạn, khắc và dựng trong vườn nhà cũ của Tống Tất Thắng ở Trung Cần vào năm 1849, còn Thám hoa Nguyễn và Hoàng giáp Nguyễn (tức là hai ông Thám hoa Nguyễn Văn Giao và Hoàng giáp Nguyễn Hữu Lập) thì soạn và dựng bia ở đền Thống Chinh ở Lương Trường, cách Trung Cần khoảng hơn chục cây số vào năm 1853, tuy rằng cả hai ông đều là người Trung Cần. Hơn nữa lúc soạn văn bia đền Thống Chinh thì ông Nguyễn Hữu Lập mới đỗ Giải nguyên, đến năm 1862 ông mới đỗ Hoàng giáp. Còn Đàn tế cạnh bia đá trong vườn nhà cũ của Tống Tất Thắng thì mãi đến năm 1874 mới được xây dựng, tức là sau 7 năm kể từ khi bia ở nhà thờ họ Tống ở Bình Hòa được khắc dựng. Nhưng theo nội dung được ghi trong văn bia này thì lại không phải như vậy. Hay là Đàn tế thần và bia đá đề năm chữ lớn do Thám hoa Nguyễn và Hoàng giáp Nguyễn dựng ở Chí Linh được ghi trong bia này là một cụm di tích khác ở Trung Cần mà nay không còn hay chưa tìm thấy? Và Chí Linh là địa danh của nơi nào thì đến nay vẫn chưa xác định được. Mong được bạn đọc có thông tin bổ sung cho.
Tại nhà thờ này hiện còn lưu giữ được khá nhiều bằng sắc của các triều đại trước đây, như sắc chỉ của vua Thành Thái giao cho làng Bình Hòa thờ phụng “Lê triều Tiến sỹ Lại bộ Thượng thư Thái bảo Nghĩa Quận công Tống phủ Thượng đẳng Thần, hoặc như sắc chỉ của vua Khải Định giao cho dân làng Bình Hòa thờ phụng “Quang ý Dực bảo Trung Hưng Lê Triều Tiến sỹ Lại bộ Thượng thư Thái bảo Nghĩa Quận công Tống Tướng công Trung đẳng Thần”. Các vị hậu duệ của Tống Tất Thắng cũng được các vua nhà Nguyễn như vua Thành Thái, vua Khải Định ban sắc chỉ và phong Thần .
Kể từ khi hậu duệ của Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng là ông Trần Tống Đâu đến định cư ở làng Bình Hòa tính đến nay đã gần ba trăm năm và họ Tống ở Bình Hòa đã phát triển nhanh chóng ở làng này thành một họ lớn và đã có những đóng góp về nhân tài vật lực đáng ghi nhận cho vùng đất bán sơn địa này nói riêng và cả nước nói chung. Cùng với sự phát triển của dòng họ Tống ở Bình Hòa, việc ghi nhận công ơn của ông tổ của dòng họ là Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng không những được thể hiện bằng việc xây dựng nhà thờ Đại Tôn nêu trên của dòng họ, hành hương sang tổ chức tế lễ cẩn trọng, trang nghiêm hàng năm vào ngày Rằm tháng Hai ở tại Lăng mộ của Thủy tổ Tống Tất Thắng bên làng Trung Cần, và ngày tiếp theo sau đó tổ chức đại tế ở nhà thờ này, hương khói thường xuyên vào những ngày lễ tiết, mà hậu duệ của Ngài ở làng này còn xây dựng các nhà thờ của chi họ để thờ phụng Ngài.

Đó là nhà thờ của chi họ được lập dựng bởi ông Trần Tống Bính (1840 - 1912), người mà bà con trong làng trước đây thường gọi một cách kính trọng là „cụ Đề Ấn“. Treo trang trọng ở gian thờ chính giữa của nhà thờ này là bức Hoành phi đại tự khắc bốn chữ Hán "小 宋 词 堂", „Tiểu Tống Từ đường“ (nhà thờ của chi nhánh họ Tống) hay nhà thờ của ông Tống Trần Uyển (1876 - 1952) với ba chữ Hán đề trên cổng chính 道 以安 (Đạo dĩ an, có đạo nghĩa mới có sự bình an) và bức Hoành phi treo trong gian thờ chính với ba chữ Hán cỡ lớn 鍾 和 气 (Chung hòa khí, hòa khí là caí cốt yếu nhất cần được chung đúc, quan tâm). Trong các nhà thờ chi họ này còn lưu giữ hàng chục câu đối của những người bạn đồng môn, đồng liêu, của học trò đề tặng, như câu đối của Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm (đậu Hoàng Giáp khoa Đinh Mùi 1907, thân phụ của nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện), của Huấn Đạo Hương Sơn Nguyễn Điển (giữ chức Huấn Đạo huyện Hương Sơn vào những năm đầu của thế kỷ hai mươi, thân phụ của nhà khoa học Nguyễn Xiển). Bản phả của họ Tống Bình Hòa bằng tiếng Việt do ông Tống Trần Hàm soạn vào năm 1937 cho biết ông Đề Ấn, tức là ông Trần Tống Bính (1840 - 1912) đậu Tú tài khoa Canh Ngọ (1870) triều vua Tự Đức năm thứ 23, được bổ làm Đề lại ở huyện Hậu Lộc và Hoằng Hóa (Thanh Hóa), về chịu tang mẹ rồi cáo quan ở nhà dạy học.

Phả chép: “Ông lo sưu tầm di tích các bậc tiền bối, soạn bản phả bằng chữ Hán, học cao và có tài biện luận, lại có tấm lòng đối với việc chung của họ nên rất có uy tín, được bà con trong họ kính mến“. Ông là một nhà nho yêu nước, từng tham gia phong trào Cần Vương, khuyến khích và che chở cho con trai của mình là ông Tống Trần Trác tham gia phong trào chống Pháp (ông Trác bị giặc Pháp bắt giam, sau đó đã vượt ngục sang Thái Lan tham gia hoạt động cách mạng khi nhà cách mạng Thầu Chín, tức là Nguyễn Ái Quốc, đang tổ chức phong trào cách mạng ở đó). Ông Trần Tống Bính đã cùng với những bậc tiền nhân tổ chức trùng tu, xây dựng nhà thượng điện, hạ điện nhà thờ họ Tống ở Bình Hoà, giao du với các bậc đại khoa ở Trung Cần như Tế tửu Lê Bá Đôn, Hoàng giáp Nguyễn Hữu Lập để sưu tầm các tư liệu liên quan đến Thuỷ tổ Tống Tất Thắng. Mặc dầu thời bấy giờ núi sông cách trở, việc đi lại duy nhất là đi bộ, rất khó khăn, trắc trở, nhưng ông lại là người rất chịu khó lặn lội không những đến Trung Cần sưu tầm di tích của tổ tiên mà còn sang tận Võ Liệt (Thanh Chương, Nghệ An), Minh Sơn (Đô Lương, Nghệ An) để thăm hỏi bà con họ Tống sinh sống ở đó, đề tặng các câu đối mừng thọ hoặc để khắc vào các nhà thờ họ Tống ở đây nhằm nhắc nhở hậu duệ của Thủy tổ Tống Tất Thắng hãy luôn ghi nhớ công đức và tấm lòng trung nghĩa của Người đối với non sông đất nước. Câu đối khắc ở nhà thờ Tống Tất Thắng ở Minh Sơn, Đô Lương được phiên âm Hán - Việt như sau:
Trung Cần nhất mạch thủy tiên ấm
Lễ Nghĩa thiên thu chấm cựu phong

Và xin được tạm dịch là:

Phúc ấm tổ tiên còn mãi gốc Trung Cần,
Nề nếp ông cha ngàn năm nơi Lễ Nghĩa.

Còn câu đối mừng thọ một người là hậu duệ của Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng khi ông đến thăm các gia đình họ Tống sinh sống ở Võ Liệt được phiên âm Hán - Việt như sau:

Dịch diệp vân nhưng bằng tổ ấm,
Thiên thu hương hỏa hữu thần thinh.
Xin được tạm dịch là:
Con cháu tha hương, vẫn nhờ ơn tổ,
Ngàn năm thờ phụng, ắt có báo đền.
Các câu đối này đều được chép vào trong phả của họ Tống ở Bình Hòa.

Các thế hệ hậu duệ của Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng ở làng Bình Hòa đã gắng công noi gương tổ tiên để đóng góp công sức cho dân, cho đời. Ông Trần Tống Cơ (1869 - 1954) là một người như thế. Ông là một thầy thuốc giỏi nổi tiếng của vùng Hương Sơn mà nhân dân trong vùng thường gọi một cách kính cẩn là cụ Hàn Trần. Ông và ông Trần Tống Bính là những người đầu tiên soạn bản Tộc phả của họ Tống ở Bình Hòa. Ông cũng chính là thầy dạy học của Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm mà câu chuyện cảm động của lễ nghĩa thầy trò tình cờ gặp lại nhau khi qua đò ngang trên sông Ngạn Phố hoặc bức Hoành phi đại tự chỉ vẻn vẹn hai chữ: “Tác Nhân”(rèn làm người) do Thượng thư Nguyễn Khắc Niêm tặng thầy học nghèo của mình nhân ngày mừng thọ đã từng được kể lại trong một số ấn phẩm hiện nay và cũng đã được ghi chép trong tộc phả. Nhân dân Hương Sơn nói chung và bà con là hậu duệ của Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng ở Bình Hòa nói riêng luôn nhớ đến công lao của những người con ưu tú của họ Tống ngay từ những năm tháng đầu tiên khi đất nước bị giặc Pháp đô hộ đã tham gia các phong trào yêu nước chống Pháp và hy sinh anh dũng, như các ông Tống Trần Tân, Tống Trần Trác (Hét Sáu, con ông Trần Tống Bính đã nói đến ở trên), Tống Trần Vấn, Tống Trần Lập (Đoàn Nghị). Ông Tân bị giặc Pháp bắn chết gần đền Thợ Giác dưới chân núi Thiên Nhẫn bên bờ sông Ngạn Phố. Ông Vấn tham gia nghĩa quân của Hoàng Hoa Thám, sau bị giặc Pháp bắt và đem về giam ở nhà tù Lao Bảo và mất trong ngục. Các bậc tiên liệt này đã không thẹn với Thủy tổ Tống Tất Thắng của họ. Hoặc như ngày nay là Tiến sĩ Tống Trần Đào, nguyên Thứ trưởng bộ Nông nghiệp, người đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển nông nghiệp của nước nhà nói chung và cho quê hương Hà Tĩnh, Hương Sơn nói riêng và đã được Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng nhì.
Năm 2007, nhà thờ họ Tống ở Bình Hòa thờ Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng đã được Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh ký Quyết định và cấp Bằng công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, thành phố. Ngày mồng ba tháng tám năm 2007, các vị lãnh đạo của Sở văn hóa Hà Tĩnh, huyện Hương Sơn, xã Sơn Hòa cùng với nhân dân trong xã và bà con họ Tống đã long trọng tổ chức lễ đón nhận và rước bằng từ trụ sở Ủy ban Nhân dân xã về làm lễ dâng hương và đặt trang trọng trong chính điện của nhà thờ bên cạnh bằng công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia đối với đình Trung Cần và mộ Tống Tất Thắng đã được Bộ Văn hóa nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam công nhận trước đó vào năm 1996.

Facebook Comments




0 người đang xem chủ đề

0 thành viên, 0 khách, 0 thành viên ẩn danh.


TEXT LINK:
- Nhạc vàng