Đến nội dung





Hình ảnh

Về hai vế đối cổ tại nhà thờ họ Lê ở Vân Chàng


  • Please log in to reply
1 reply to this topic

#1 Tống Trần Tùng (Gửi lúc 08:42AM, 12-01-2010 )

    Lính mới

  • Thành Viên
  • Pip
  • Bài viết: 21

Về hai vế đối cổ tại nhà thờ họ Lê
ở làngVân Chàng, thị xã Hồng Lĩnh

Tống Trần Tùng

Vân Chàng là một làng nằm dưới chân núi Hồng Lĩnh có con sông Minh chảy qua cùng hai ngọn núi nhỏ bao bọc quanh làng là Rú Tiên và Rú Ngọc. Vân Chàng trước đây có tên là làng Hoa Chàng thuộc tổng Minh Lang, huyện Thiên Lộc, xứ Nghệ An. Về sau đổi tên là Vân Chàng thuộc tổng Trung Lương, huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh. Hiện nay Vân Chàng nằm trong địa phận xã Đức Thuận thuộc thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. Làng Vân Chàng có nghề rèn được cho là bắt đầu từ thời nhà Lý. Cạnh làng Vân Chàng là làng Minh Lương thuộc xã Trung Lương cũng là một làng nổi tiếng với nghề rèn. Cũng như làng Văn Giang, có thể nói làng Vân Chàng là một làng cổ của quốc gia cổ Việt Thường. Và như trong nhiều vùng khác nhau của mảnh đất Nghệ Tĩnh, bà con ở Vân Chàng, Trung Lương cũng lưu truyền câu chuyện dân gian huyền thoại về ông Đùng. Người dân Vân Chàng cho rằng tổ sư nghề rèn của làng này là ông Đùng. Trong các chuyện kể về ông Đùng của người Nghệ - Tĩnh nói riêng và nước ta nói chung, không chỉ kể về thời kỳ khai thiên lập địa, trời đất còn là đồng sâu ngập nước, rừng rậm hoang vu, rắn rết thú dữ tràn đầy được nói đến mà còn mô tả ông Đùng như một người khổng lồ đứng ra đào núi lấp biển và sau đó tạo lập đồng ruộng để con người cấy cày, trồng trọt. Ông Đùng còn dạy dân đan lát, dệt vải và làm đồ sắt. Và từ đó, nghề rèn ở Nghệ - Tĩnh đã ra đời và phát triển, trong đó có các làng như rèn Vân Chàng, Minh Lương, làng đúc đồng Nho Lâm. Khi người dân Việt Thường cổ phải đối mặt với sự xâm lược của phương Bắc, ông Đùng cùng dân Việt Thường đã đứng ra đánh giặc và anh dũng hy sinh. Ông Đùng chính là người dân Nghệ - Tĩnh, người dân Vân Chàng trong cả quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước, từ khi tạo lập địa bàn cư trú cho đến cả quá trình phát triển sản xuất, chiến đấu với kẻ thù để bảo vệ non sông. Người dân Vân Chàng cho rằng ông Đùng ở trên núi Hồng Lĩnh. Thấy dân không có cái để đào đất, chặt cây, cắt cỏ, ông bèn bới đất lấy sắt, nhổ cây trên núi đốt thành than và nung sắt rèn thành lưỡi cày, lưỡi cuốc, dao rựa, liềm hái phát cho mọi người trong làng. Ông còn dạy cho dân làng Vân Chàng làm nghề rèn sắt. Và nghề rèn ở Vân Chàng, Minh Lương có từ đó. Để ghi nhớ công ơn của ông Đùng, làng Văn Chàng đã đúc tượng ông, lập đền thờ ông trên Rú Tiên và gọi là đền thờ ông Thánh Thợ. Còn một truyền thuyết khác về nguồn gốc nghề rèn ở Vân Chàng, Minh Lương cũng qua lời kể của người dân ở đây. Đó là chuyện hai anh em họ Trương làm nghề thợ rèn từ nơi khác đến đây dựng bễ xây lò. Về sau người em ra Nam Trực, Nam Định lập nghiệp. Ngày nay ở xã Nam Giang, huyện Nam Trực cũng có làng Vân Chàng nổi tiếng về nghề thợ rèn. Làng rèn Vân Chàng ở Nam Giang này tương truyền là có từ đời vua Trần Nhân Tông (1279 - 1293). Đình làng thờ Lục vị Thánh sư là sáu ông tổ của nghề thợ rèn làm Thành Hoàng của làng. Cũng có người kể là người em vào Huế lập nên làng rèn Hiền Lương, còn người anh thì ở lại Vân Chàng truyền nghề cho dân Vân Chàng, Trung Lương. Trong một ngôi đền của Trung Lương còn có đôi câu đối bằng chữ Hán ghi công hai anh em này:

Trung hiền tịnh tiến tương tiên hậu,
Lương thiện thành phong tự cổ kim.

Tạm dịch là:

Trung hiền nối bước người sau trước,
Lương thiện xưa nay vốn nếp nhà.

Đôi câu đối trên đây đã khéo nhắc đến hai địa danh liên quan đến truyền thuyết này là làng rèn Trung Lương ở đây và làng rèn Hiền Lương ở Huế. Người dân ở đây còn kể lại là trong phong trào Cần Vương chống Pháp, có cố Đường cùng thợ bạn đã mang lò, bệ của mình lên rèn đao kiếm cho nghĩa quân của Phan Đình Phùng trên núi Vụ Quang. Cố Đường cùng tướng Cao Thắng, một vị tướng tài ba của nghĩa quân, người Hương Sơn, đã chế tạo thành công súng trường bằng cách rèn các chi tiết giống như súng trường thu được của Pháp. Trong kháng chiến chống Pháp, thợ rèn ở Vân Chàng, Trung Lương đã cùng với xưởng quân giới, xưởng lựu đạn ở Văn Giang (nay thuộc xã Sơn Thịnh, huyện Hương Sơn), sản xuất hàng chục tấn lựu đạn, hàng ngàn súng ống, hàng vạn dao găm, mã tấu cung cấp cho bộ đội cụ Hồ. Ngày nay, Vân Chàng là một làng nghề nổi tiếng của Hà Tĩnh nói riêng và cả nước nói chung. Cách nhà thờ Tống Tất Thắng ở làng Bình Hòa (xã Sơn Hòa, huyện Hương Sơn) chỉ mấy chục mét, từ bao đời và cho đến tận ngày nay, vẫn có một lò rèn của một gia đình ở Vân Chàng lên đây lập nghiệp. Người dân vùng này vẫn quen gọi là lò rèn chợ Gôi. Bà con của sáu xã vùng hạ Hương Sơn thuộc tổng An Ấp cũ không ai là đã không từng ít nhất một lần đến lò rèn này để rèn dao, đánh chấu liềm, chấu hái hay “ra gang” cho cái lưỡi cuốc lưỡi cày được sắc ngọt hơn.

Trong các bản tộc phả liên quan đến Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng cũng như những lời truyền miệng còn lưu lại trong các bậc cao niên là hậu duệ của Tống Tất Thắng ở Văn Giang và Bình Hòa, có ghi là sau khi Tống Tất Thắng qua đời, người con trai thứ hai của ông là ông Sùng đã phiêu bạt sang làng Vân Chàng. Và sự kiện này mãi đến đầu thế kỷ hai mươi mới được khẳng định. Năm 1927, ông Tống Trần Hàm, người viết bản phả họ Tống đầu tiên bằng tiếng Việt, khi đang dạy học ở trường Tiểu học của huyện Can Lộc đã được ông Lê Giản, lí trưởng làng Vân Chàng, sao chép cho một bản phả được viết trên lụa điều của họ Lê của ông, trong đó có đoạn viết : “Xưa họ ta phát tích từ huyện Thanh Chương, tổng Nam Kim, xã Trung Cần, về đời Lý có vị Quận công Tống Tất Nhu rồi đến đời Lê có vị Tiến sĩ Tống Tât Thắng” (theo bản dịch của ông Tống Trần Hàm). Nhờ đó mà ông Tống Trần Hàm đã ghi vào các bản phả của họ Tống ở Bình Hòa là còn có một chi họ Tống là hậu duệ của Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng ở làng Vân Chàng, nhưng nay đổi thành họ Lê. Mãi đến gần bảy mươi năm sau, khoảng năm 1990, anh Tống Trần Trung ở Bình Hòa lấy vợ người Vân Chàng, qua tìm hiểu tộc phả và trao đổi với bà con họ Lê ở đó, những người họ Lê ở Vân Chàng mới có điều kiện tìm hiểu kỹ hơn tổ tiên của mình, do trước đó nhà thờ họ Lê ở Vân Chàng đã bị chiến tranh tàn phá, các bản chép tộc phả bị thất lạc. Họ Lê ở Vân Chàng bèn cử bốn người, trong đó có ông Lê Khắc Hoan, lên Bình Hòa gặp bà con họ Tống, cùng đọc các bản phả. Ông Lê Khắc Hoan và bà con họ Lê ở Vân Chàng đã tìm được tổ tiên của họ mình vì ông Lê Giản chép trong bản phả do ông Tống Trần Hàm soạn chính là ông nội của ông Hoan. Ông Hoan và bà con họ Lê còn cho biết là họ Lê của ông thờ ông Sùng là Tiên tổ, mà họ Tống ở Văn Giang, Bình Hòa đều truyền lại rằng ông Sùng là con trai thứ hai của Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng. Trải qua gần một nửa thiên niên kỷ, lịch sử đã được chắp nối, họ hàng đã nhận được nhau nhờ ghi chép của các bậc tiền nhân. Mà không chỉ có vậy. Họ Lê ở Vân Chàng là hậu duệ của Tống Tất Thắng còn được khẳng định qua đôi câu đối cổ bằng chữ Hán được khắc ở nhà thờ của họ Lê ở Vân Chàng trước đây như sau:

禾 刀 派 衍 鸿 雲 地

宀 木 源 從 至 上 山

Xin được phiên âm Hán Việt có sử dụng thêm dấu phẩy để tách các nhóm từ nhằm giúp người đọc nhấn mạnh được ý nghĩa của hai vế đối như sau:
Huê đao phái, diễn hồng vân địa
Miên mộc nguyên, tòng chí thượng sơn

Đây là một đôi câu đối khá đặc biệt và rất tài tình. Cái tài tình đó được biểu hiện không chỉ bằng cách dùng các điển tích ít người biết đến để gửi lại hậu duệ những thông điệp lịch sử của dòng họ Lê này, bởi có thể lúc đó các bậc tiền nhân chưa dám nói thẳng ra điều đó. Cái tài tình đó còn được bộc lộ ở chỗ chỉ vẻn vẹn trong mười bốn chữ mà đã thể hiện được niềm tự hào của tổ tiên, của dòng họ, của mảnh đất nghề rèn Vân Chàng, mảnh đất núi Hồng sông Lam yêu quí. Xin được phép thử giải mã đôi câu đối này, nếu có điều gì chưa đúng, mong được bạn đọc chỉ bảo.

Trước hết là hai chữ “huê đao” của vế đối thứ nhất. Nghĩa riêng của chữ “huê” là cây mạ, cây lúa non. “Huê đao” có thể hiểu là một rừng đao kiếm ken dày như những lá mạ non, lá lúa non nhảy múa trước gió. Tuy vậy, trong các thế võ thì “huê đao” là một thế võ kín nhằm bảo vệ thân mình để có thể nói là bất khả xâm phạm. Theo các sách truyền kỳ viết về cung kiếm, ví dụ như trong cuốn “Càn Long du Giang Nam” thì “huê đao” là thế võ “cầm đao đánh làm bốn cửa, trên ba, dưới bốn, bên tả năm, bên hữu sáu” và “múa như rồng giỡn, chẳng khác phượng xòe, ban đầu còn thấy bóng, đến sau chẳng thấy hình. Và đặc biệt hơn, hai chữ “huê” (禾) và chữ “đao” (刀) ghép lại sẽ thành chữ Lê(黎), nghĩa là hai chữ “huê đao” là biểu tượng của dòng họ Lê này. Điều này cũng giống như họ Trần danh tiếng của các vua Trần vẫn thêu trên lá cờ đại của các đạo quân triều Trần đã từng ba lần đánh thắng quân Nguyên xâm lược hai chữ “Đông A”(東 阿)là biểu tượng của họ Trần (陳). Các bậc tiền nhân họ Lê là hậu duệ của Tống Tất Thắng mong muốn dòng họ Lê của mình ở Vân Chàng hãy theo gương trung nghĩa với đất nước của Tống Tất Thắng như dòng họ Trần với “Hào khí Đông A” đã từng được sử sách ghi nhận vậy. Dòng họ Lê này ở Vân Chàng cũng đã từng góp công sức làm nên truyền thống nghề rèn nổi tiếng ở Vân Chàng, không chỉ rèn nông cụ để sản xuất, mà lúc quốc gia hữu sự còn rèn vũ khí để đánh giặc bảo vệ bờ cõi non sông. “Hồng Vân địa” chính là đất Hồng Lĩnh, Vân Chàng. “Huê đao phái diễn Hồng Vân địa”, dòng họ Lê với rừng đao kiếm tự mình rèn lấy, với thế võ “huê đao” là những người có nhiệm vụ phát triển để gìn giữ, bảo vệ mảnh đất Hồng Lĩnh, Vân Chàng, bảo vệ quê hương yêu dấu và bảo vệ làng nghề đầy tự hào của mình.

Còn vế đối thứ hai bắt đầu bằng hai chữ “miên mộc”. “Miên” (宀) nghĩa là vương miện, là mũ mão của nhà vua, “mộc” (木) nghĩa là gỗ, là cây, là tính tình hiền lành chất phác, là một trong năm yếu tố cơ bản trong thuyết Âm Dương Ngũ hành của triết học phương Đông. Nghĩa đen của hai từ này là để chỉ một loại gỗ quí dùng để làm mũ của các bậc đế vương. Tuy vậy, điều đặc biệt của hai từ này của vế đối thứ hai cũng giống như hai từ “huê đao” của vế đối thứ nhất. “Miên mộc” nếu ghép hai chữ với nhau sẽ thành chữ “Tống”(宋). Cũng như “Đông A” là biểu tượng của dòng họ Trần, “Huê Đao” là biểu tượng của dòng họ Lê thì “Miên Mộc” chính là biểu tượng của dòng họ Tống vậy. Có thể các bậc tiền nhân họ Lê ở Vân Chàng, hậu duệ của Tống Tất Thắng đã mượn điển tích trong một tài liệu cổ của Trung Quốc được cho là của Đại tướng Khương Tử Nha (Lã Vọng) đời Chu Văn Vương và Chu Vũ Vương (khoảng trên một ngàn năm trước Công nguyên). Đó là cuốn cổ thư “Càn khôn vạn niên ca”, một cuốn cổ thư có nội dung như là những lời tiên tri đối với sự thăng trầm của các triều đại Trung Quốc sẽ xảy ra trong hàng vạn năm về sau. Trong cuốn cổ thư này có câu “Tam bách niên lai miên mộc chung” nghĩa là ba trăm năm tiếp đến nhà Tống sẽ kết thúc, trong đó hai chữ “miên mộc” là để chỉ các triều vua nhà Tống. Thực tế lịch sử đã diễn ra đúng như vậy.Việc thành lập nhà Tống năm 960 đánh dấu sự tái thống nhất Trung Quốc lần đầu tiên kể từ khi sụp đổ năm 907. Những năm giữa giai đoạn đó, được gọi là thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc, là khoảng thời gian chia rẽ giữa miền Bắc và miền Nam của Trung Hoa cũng như sự thay đổi nhanh chóng của các thể chế cầm quyền. Sau 319 năm, năm 1279, nhà Tống bị quân Mông Cổ của Thành Cát Tư Hãn tiêu diệt và thay thế bằng triều đại nhà Nguyên cai trị Trung Hoa. Đúng là “Tam bách niên lai miên mộc chung”. Còn hai chữ “chí thượng” thường dùng để chỉ quyền lực cao nhất của các bậc đế vương, các bậc chí tôn, chí thánh, nhưng trong vế đối này lại đi với chữ “sơn” là núi, thành “chí thượng sơn”, là núi cao chót vót, một kiểu dùng nhân cách hóa, thiêng liêng hóa núi sông. Giá như các bậc tiền nhân dùng ba chữ “Quải Bái Sơn” là nơi có đền Thống Chinh thờ Tống Tất Thắng thay cho ba chữ “Chí thượng sơn” ở đây thì có lẽ con cháu họ Lê ở Vân Chàng dễ tìm gốc tích, tổ tiên hơn. Tuy vậy, cũng có thể các bậc tiền nhân khi viết hai vế đối này chưa biết được việc nhân dân Nam Đàn đã lập đền Thống Chinh trên núi Quải Bái để thờ phụng Tống Tất Thắng. “Miên mộc nguyên tòng chí thượng sơn” có nghĩa đen là muốn kiếm đúng loại gỗ làm vương miện của các bậc đế vương thì hãy tìm đến những ngọn núi cao hiểm trở và linh thiêng. Vế đối này nếu liên hệ với vế đối thứ nhất thì lại có nghĩa là họ Tống (mới là) nguồn gốc (của họ Lê này) vốn ở trên vùng núi cao.

Như vậy, hai vế đối này có thể được hiểu theo hai cách. Cách thứ nhất là để nói lên sự liên hệ giữa “huê đao” và “miên mộc” nhằm đề cao truyền thống trung nghĩa với non sông của những thế hệ vốn xuất thân từ dòng dõi văn thần võ tướng có công lao với các vương triều nay đang làm nghề rèn, đang tồn tại, phát triển để gìn giữ mảnh đất Vân Chàng, Hồng Lĩnh.Với cách hiểu này, hai vế đối này xin được tạm dịch là:

Võ “huê đao” nay, phát triển đất Hồng Vân,
Gốc “miên mộc”xưa, nhớ tìm nơi núi hiểm.

Còn hiểu hai vế đối trên theo một nghĩa khác như đã phân tích ở trên thì nội dung của chúng lại là sự nhắc nhở hậu thế về nguồn gốc và nơi phát tích của dòng họ mình . Và như vậy có thể tạm dịch là:

Nhánh họ Lê nay, phát triển đất Hồng Vân,
Là họ Tống xưa, nhớ tìm nơi núi hiểm.

Nhà thờ họ Lê gốc họ Tống ở Vân Chàng được xây dựng lại sau này đã khắc lại hai câu đối cổ này vào hai cột ngoài cùng.

Sau khi khẳng định lại được Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng là ông tổ của dòng họ Lê này, năm 1993 dòng họ đã thắp hương khấn để xin được rước anh linh của Tống Tất Thắng vào thờ trong nhà thờ của dòng họ. Tuy vậy, theo các bậc cao niên của dòng họ này kể lại thì sau ba lần xin keo (gieo đồng tiền để xin âm dương) không được, dòng họ Lê này đã xây dựng miếu thờ riêng trước sân nhà thờ họ Lê để thờ Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng./.

Facebook Comments

#2 honglamtieuboi (Gửi lúc 04:33PM, 12-01-2010 )

    Tích cực

  • Thành Viên
  • PipPipPip
  • Bài viết: 466

Cảm ơn bạn về một bài rất hay. Tất nhiên mình chưa đủ bằng chứng để khẳng định. Nhưng qua bài viết của bạn cũng với những tài liệu điền dã mà mình có được thì cảm thấy được biết nhiều hơn về quê hương của mình.
"Cu?c ??i nh? m?t gi?c m?
Th?i gian tr




0 người đang xem chủ đề

0 thành viên, 0 khách, 0 thành viên ẩn danh.


TEXT LINK:
- Nhạc vàng