Đến nội dung





Hình ảnh

Làng Văn Giang và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn


  • Please log in to reply
1 reply to this topic

#1 Tống Trần Tùng (Gửi lúc 08:08AM, 09-01-2010 )

    Lính mới

  • Thành Viên
  • Pip
  • Bài viết: 21

¸ Làng Văn Giang và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Tống Trần Tùng
Văn Giang là một làng cổ nằm sát tả ngạn sông Ngạn Phố (nay thường gọi là Ngàn Phố), ngay dưới chân núi Thiên Nhẫn. Làng Văn Giang trước đây thuộc tổng An Ấp, huyện Hương Sơn. Vùng đất Hương Sơn thời cổ là huyện Dương Toại thuộc quận Cửu Đức, đến đời Tấn Vũ Đế là huyện Phố Dương. Theo Đại Nam nhất thống chí thì huyện Hương Sơn thời Bắc thuộc, cụ thể là thời nhà Đường, là châu Phúc Lộc. Đời nhà Lí là hương Đỗ Gia thuộc châu Nghệ An. Thời thuộc Minh là hai huyện Cổ Đỗ (vùng đất thuộc chủ yếu Hương Sơn ngày nay) và Thổ Hoàng (các vùng đất thuộc hai huyện Hương Khê và Vũ Quang ngày nay). Đầu đời Hậu Lê là huyện Đỗ Gia. Vào những năm Quang Thuận (1460 - 1469, triều vua Lê Thánh Tông, sau đó đổi niên hiệu là Hồng Đức) đổi tên thành huyện Hương Sơn thuộc phủ Đức Quang, xứ Nghệ An, sau là trấn Nghệ An. Huyện Hương Sơn lúc bấy giờ vẫn bao gồm cả vùng đất của huyện Thổ Hoàng. Từ năm 1831 đến năm 1919, huyện Hương Sơn thuộc phủ Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Tuy vậy, kể từ năm 1868, huyện Hương Khê được thành lập bởi vùng đất chủ yếu từ huyện Thổ Hoàng trước kia và tách khỏi huyện Hương Sơn. Năm 1931, hệ thống hành chính của nước ta bỏ cấp phủ, huyện Hương Sơn trực thuộc tỉnh Hà Tĩnh cho đến ngày nay.
Sau Cách mạng tháng tám năm 1945, hai làng Văn Giang và Thịnh Xá hợp nhất thành xã Thịnh Văn, về sau đổi thành xã Sơn Thịnh theo qui luật là tất cả các xã thuộc huyện Hương Sơn đều bắt đầu bằng chữ Sơn. Làng Thịnh Xá còn lại chữ Thịnh trong tên xã, còn làng Văn Giang chỉ còn lại trong ký ức của những người dân có gắn bó ít nhiều với mảnh đất này. Văn Giang bao gồm ba xóm Thịnh Hương (xóm Hói), Thịnh Giang và Thịnh Đồng (xóm Vườn) của xã Sơn Thịnh ngày nay.
Mảnh đất Văn Giang từng là căn cứ địa của Lê Lợi trong cuộc kháng chiến 10 năm chống quân Minh gắn liền với các địa danh cổ như cầu Ngù, Đại Hùng, Thanh Đầm, rú Hoả Hiệu, xứ Đàng Thoong v. v., những địa danh chắc chắn có sự liên quan mật thiết đến Bình Ngô thành và Lục Niên thành trên núi Thiên Nhẫn cách làng Văn Giang không đến một giờ leo núi mà sự hồn nhiên đến vô tâm của các thế hệ sau này khiến cho các địa danh nói trên cũng như ý nghĩa lịch sử của những địa danh này hình như đang dần bị lãng quên. Lần theo các tài liệu lịch sử như Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt thông sử của Bảng Nhãn Lê Quí Đôn, Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, Nghệ An ký của Hoàng giáp Bùi Dương Lịch, Le vieur An - Tịnh của Le Breton, La Sơn Phu tử của Hoàng Xuân Hãn, Di tích khởi nghĩa Lam Sơn ở Hà Tĩnh của Phan Huy Lê v. v., có thể thấy rằng, sau cuộc hành quân chiến lược của nghĩa quân Lê Lợi từ Lam Sơn, Thanh Hoá vào Nghệ An và lập đại bản doanh chỉ huy tại Thành Lục Niên trên núi Thiên Nhẫn thì vùng hậu cứ đặc biệt quan trọng của Lê Lợi trong hơn nửa đầu của cuộc kháng chiến chống giặc Minh giành độc lập cho tổ quốc, chính là huyện Hương Sơn, tức là huyện Đỗ Gia lúc bấy giờ. Những địa danh được nhắc đến trong các bài thơ của các danh nhân ca ngợi cuộc kháng chiến chống quân Minh, những ghi chép trong các bộ quốc sử về các trận đánh lớn, những di tích liên quan còn được lưu giữ ở vùng này có thể cho chúng ta hình dung được vùng hậu cứ này. Phía Tây Nam của hậu cứ là xã Hương Trạch thuộc huyện Hương Khê ngày nay mà bằng chứng lịch sử là núi Phù Lê ở xã Phúc Lộc thời đó. Theo Nghệ An ký thì “tên núi là do vua Lê Thái tổ ban cho” khi nhà vua đóng quân trên địa bàn huyện Đỗ Gia. Nhân dân quanh vùng này đã mang lương thực và vũ khí vào trong một “cái hang không dò được đáy, nơi có một cái giường đá rộng, cạnh giường có những phiến thạch nhũ lố nhố giao nhau, cái như bức bình phong, cái như hàng rào tre” để giúp việc quân của nhà vua. Phía Đông Nam của hậu cứ là ngọn núi Tùng Lĩnh (Linh Cảm, Đức Thọ) và dãy núi Mồng Gà thuộc địa bàn các xã Sơn Trà, Sơn Phúc ngày nay. Núi này nằm trong dãy núi Đại Hàm, sừng sững như một bức tường thành trấn ngữ phía Nam của huyện. Hoàng giáp Bùi Dương Lịch viết: “Từ núi Giăng Màn chạy xuống phía Đông, lớp này chồng lên lớp kia, cây cối rợp trời, đến chỗ cuối cùng thì bỗng cất đầu thẳng lên như gà chọi gặp đối thủ, có vẻ như đang hầm hè xông vào đấu, chỗ đó gọi là núi Mồng Gà. Núi này có sông Phố và sông La vòng quanh giao lại” và “Dưới chân núi về nhánh Tây Bắc có một chỗ gọi là Đãng Phủ là nơi vua Thái Tổ Cao Hoàng đế nhà Lê trú chân”. Đãng Phủ ngày nay thuộc địa phận xã`Sơn Phúc mà những địa danh ngày nay trong xã như xóm Kho, xóm Cấm, bãi Nhà Dinh, đền Lam Sơn Triều lĩnh … chính là minh chứng của lịch sử. Còn theo Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn thì vào năm Giáp Thìn (1424), sau khi nghĩa quân Lam Sơn đại thắng ở trận Trà Lân chém đầu tướng giặc Trần Trung, bọn Trần Trí, Phương Chính thua chạy rút về thành Nghệ An (núi Thành ngày nay), Lê Lợi đem quân về đóng ở cửa ải Khả Lưu (gần thị trấn Đô Lương hiện nay) để chuẩn bị đánh thành Nghệ An. Sau khi giao cho Đinh Liệt dẫn một ngàn quân đi tắt sang ém ở Đỗ Gia, Lê Lợi cho quân tinh nhuệ mai phục ở Bồ Ải rồi sai đội khinh kỵ đến (thành Nghệ An) khiêu chiến. Địch ứng chiến, đuổi theo đội khinh kỵ đến Bồ Ải, trúng phải ổ phục binh, thua to. Tướng tiên phong của giặc Minh là Hoàng Thành bị chém chết, tướng Chu Kiệt bị bắt sống cùng hàng ngàn quân. Trần Trí và Sơn Thọ chạy về cố thủ trong thành Nghệ An. Cuốn Đại Việt thông sử ghi chú: “Bồ Ải ở phía Nam ngọn Động Chủ của núi Thiện Nhận và phía Tây Nam của huyện Thanh Chương (thời đó), đời sau gọi là thành Bình Ngô vì có trận chiến thắng lớn ở đó”. Thành Bình Ngô cũng được nhắc đến trong khảo cứu vào những năm đầu thế kỷ hai mươi của ông Hiệu trưởng trường Quốc học Vinh Le Breton được đề cập trong cuốn sách “Le Vieux An - Tinh”, và ông cho rằng Bình Ngô thành là một địa danh liên quan đến một trận đánh khi Lê Lợi đóng quân trên núi Động Chủ. Le Breton còn cho in trong cuốn sách này một bức ảnh chụp chợ Bình Ngô (?). Có thể Le Breton đã dựa chủ yếu vào ghi chép của Đại Việt thông sử có kết hợp với các đợt khảo sát cùng học trò trường Quốc học Vinh như ông đã kể lại trong cuốn sách. Nếu xét thêm vị trí địa lí hiểm trở của đoạn sông cong gập tạo thành một vũng nước xoáy, một vực sâu của con sông Ngạn Phố ở đoạn chảy qua làng Văn Giang dưới chân núi Thiên Nhẫn, nơi hiện nay có tên là Khu Vực và cự li di chuyển của quân Minh từ thành Nghệ An ở núi Nghĩa Liệt đến đây chỉ khoảng dăm bảy cây số thì Bồ Ải chỉ có thể là khúc sông cong của sông Ngạn Phố chảy qua làng Văn Giang nói trên.
Theo Bùi Dương Lịch thì chỗ mai phục của nhà vua chính là bên bờ sông Ngạn Phố, dưới chân núi Mồng Gà thuộc dãy núi Đại Hàm, tức là vùng đất của các xã Sơn Trà, Sơn Long, Sơn Tân, Sơn Mỹ và Sơn Thịnh, trong đó có làng Văn Giang, huyện Hương Sơn ngày nay. Kết hợp cứ liệu của cả ba tài liệu lịch sử nói trên thì có thể khẳng định Bồ Ải chính là làng Văn Giang ngày nay.

Tuy vậy, phần ghi chú của Đại Việt Sử ký Toàn thư, tập II, trang 253 lại viết: “Bồ Ải là một địa điểm phía trên của cửa ải Khả Lưu, cách Khả Lưu không xa. Hiện nay ở xã Đức Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An có khe Ải đổ ra sông Lam và ngọn núi thấp ở đây cũng có người gọi là Bù Ải. Có lẽ đó là Bồ Ải xưa kia”. Có thể ghi chú này của nhà xuất bản không đúng.
Giai đoạn này của cuộc kháng chiến chống quân Minh có thể coi là giai đoạn Tổng phản công, giai đoạn quyết định những thắng lợi tiếp theo để giành độc lập cho Tổ quốc. Bình Ngô Đại cáo của Nguyễn Trãi khi viết về giai đoạn này đã dành những câu văn sang sảng, hào hùng, những câu văn còn vang mãi trong tâm khảm của bao thế hệ chúng ta:
Trận Bồ Đằng như sấm vang chớp giật,
Trận Trà Lân như trúc chẻ tro bay.
Sĩ khí lại càng hăng,
Quân thanh càng lừng lẫy.
Bọn Trần Trí, Sơn Thọ nghe tin bở vía,
Bọn Phương Chính, Lý An nín thở mong sống tàn.
(theo bản dịch của cuốn “Nguyễn Trãi. Toàn tập”, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976)
Còn Bùi Dương Lịch lại có bài thơ vịnh núi Mồng Gà và dịch giả Đỗ Ngọc Toại dịch như sau:
Cùng trong mạch đất phát ra,
Riêng đây hình núi nguy nga khác vời.
Đứng ngay như chặn giặc ngoài,
Thế hăng như muốn trổ trời xông lên.
Hai sông La, Phố hợp liền,
Thanh, Hương hai cánh giữ liền cả hai.
Vua Lê xưa phá giặc trời,
Đã từng có trận thét roi chốn này.
Núi Mồng Gà còn được nhắc đến trong một thư tịch cổ khác của Trung Quốc là quyển Thuỷ kinh chú, là cuốn sách của Lịch Đạo Nguyên ở thế kỷ thứ 6. Cuốn sách này chú giải cho cuốn Thuỷ kinh là một cuốn dư địa chí viết về sông núi và các vùng đất do nhà Hán kiểm soát, được chép vào những năm cuối trước công lịch. Thuỷ kinh chú viết về vùng đất quanh núi Đại Hàm như sau: “Đất Hàm Hoan trở vào phía Nam, hươu nai đầy núi. Chúng kêu la, kéo đàn ầm ĩ đồng nội. Những đàn công bay lượn rợp trời khắp núi”.
Dù làng Văn Giang có phải là chiến địa Bồ Ải hồi đó hay không thì một điều không cần bàn cãi là Văn Giang chính là điểm cực Bắc của hậu cứ Đỗ Gia của nghĩa quân Lê Lợi. Văn Giang không những là hậu cứ mà còn là hậu tuyến phía Nam của thành Lục Niên vì phía Bắc của thành vô cùng hiểm trở, lại trực diện với thành Nghệ An của quân Minh trên núi Nghĩa Liệt (còn gọi là núi Thành vì hiẹn nay vẫn còn dấu tích của thành nhà Minh và cột cờ ở trên đỉnh núi) bên kia sông Lam nên không thể sử dụng các làng xã ở phía này làm hậu tuyến hay hậu cứ được. Hậu tuyến Văn Giang không những thuận lợi cho việc di chuyển lực lượng tướng sĩ từ thành Lục Niên đi mai phục hoặc tấn công quân Minh ở các nơi khác, mà cùng với hệ thống tiền tiêu được bố trí ở các vùng khác thuộc huyện Đỗ Gia như hệ thống đồn luỹ án ngữ ở Truông Mèn, Truông Trảy, rú Roọc, chiến luỹ trên núi Ngũ Mã (thuộc xã`Sơn Tiến ngày nay), đồn Đinh Lễ trên núi Tùng Lĩnh (Linh Cảm), hệ thống đồn luỹ trên rú Chuối, rú Tháp, rú Bút và thung lũng Khe Chài (thuộc các xã Sơn Ninh, Sơn Lễ và Sơn Hoà ngày nay) tạo thành một căn cứ địa hoàn chỉnh,vững chắc, kín đáo để triển khai các trận đánh với quân Minh đóng ở Lam Thành. Dãy Thiện Nhẫn với thành Lục Niên trở thành trung tâm chỉ huy của Nghĩa quân Lam Sơn. Văn Giang là hậu tuyến trực tiếp của trung tâm chỉ huy để kết nối với hậu cứ Đỗ Gia, Đức Quang. Vùng hậu cứ này giữ được sự liên thông với Thuận Hóa ở phía Nam, Thanh Hóa và các địa phương khác ở phía Bắc bằng con đường núi dọc theo dãy núi Giăng Màn (dãy Trường Sơn) nhằm đảm bảo cho nghĩa quân tập trung được lực lượng bao vây giặc Minh như Le Breton đã từng nhận định.
Đỗ Gia, Đức Quang còn là nguồn cung cấp lương thảo, bổ sung quân sĩ cho nghĩa quân của Lê Lợi đóng trong thành Lục Niên. Trong ấn phẩm thông tin họ Trần Việt Nam “Hào khí Đông A” số 4 năm 2004, tác giả Trần Chí đã căn cứ vào gia phả họ Trần ở thôn Châu Diên, xã Đức Châu, Đức Thọ, Hà Tĩnh cho biết là sau khi triều Trần bị Hồ Quí Ly đoạt ngôi, gia đình tôn thất nhà Trần của ông Trần Duy gồm hơn năm trăm người đã lánh về vùng Đức Quang và Đỗ Gia (tức là Đức Thọ và Hương Sơn thuộc Hà Tĩnh ngày nay) lập ấp khai hoang, chiêu mộ nghĩa quân, tích trữ lương thảo. Đến khi vua Trần Trùng Quang lập căn cứ kháng chiến chống quân Minh ở vùng này, gia tộc họ Trần này đã hỗ trợ đắc lực cho nghĩa quân của nhà vua. Sau đó, khi nghĩa quân Lê Lợi về lập căn cứ trên núi Thiên Nhận và ở vùng Đỗ Gia, Đức Quang, Trần Duy cùng cả gia tộc đã cùng đứng dưới ngọn cờ kháng chiến cứu nước của Lê Lợi. Trần Duy về sau được mang họ của vua Lê và trở thành khai quốc công thần và được phong là Thái phó Thạch Quốc công triều vua Lê Thái tổ. Theo gia phả họ Trần Trọng ở làng Văn Giang thì ông tổ Trần Phúc Hựu của dòng họ này là hậu duệ của Trần Duy. Theo “Các nhà khoa bảng Việt Nam” thì Trần Phúc Hựu là người xã Yên Việt hạ, huyện La Sơn, nay là xã Đức Châu, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Ông sinh năm 1550, đỗ Hoàng giáp khoa Quí Mùi (1583) đời Lê Thế Tông, làm quan đến chức Đại lý Tự khanh, khi mất được tặng chức Hữu thị lang, tước Nam. Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì ông mất năm 1599. Nhà thờ của dòng họ Trần này ở làng Văn Giang là nhà thờ không những của họ Trần Trọng ở Văn Giang mà còn là của dòng họ Trần ở xã Đức Vĩnh, Đức Thọ, Hà Tĩnh. Đức Vĩnh nằm sát bến đò Phù Thạch xưa, nay thường gọi là đò Hào, là một địa danh gắn liền với các trận đánh của nghĩa quân Lê Lợi, đặc biệt là các trận đánh quân Minh ở thành Nghệ An nằm trên núi Nghĩa Liệt phía bờ bắc sông Lam chảy qua xã Đức Vĩnh ngày nay.

Có thể nói rằng những năm đầu của cuộc kháng chiến mười năm chống quân Minh (1418 - 1428), huyện Đỗ Gia nói chung và làng Văn Giang nói riêng là chiến khu của nghĩa quân Lê Lợi. Chắc chắn những anh hùng, những nhân vật kiệt xuất của lịch sử nước ta như Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Trần Duy đã từng không chỉ một lần dừng chân hoặc đóng quân ở làng Văn Giang. Cầu Ngù, chùa Thanh Đàm, núi Hỏa Hiệu v. v. đã trở thành những địa danh lịch sử gắn liền với chiến khu Đỗ Gia - Văn Giang hồi đó. Nhưng rồi, khi nghĩa quân Lê Lợi quét sạch quân Minh ra khỏi bờ cõi, giành được độc lập cho tổ quốc Đại Việt, khi khúc khải hoàn với khí phách hiên ngang, tự hào vang lên trong thiên cổ hùng văn Bình Ngô Đại cáo của Nguyễn Trãi thì cũng là lúc những vùng đất như Văn Giang, Đỗ Gia, Đức Quang, Trà Lân, Thiên Nhận, Bồ Ải … dần dần đi vào dĩ vãng. Nhưng những người đã trực tiếp tham gia và chứng kiến những năm tháng đó vẫn còn để lại hậu duệ, để lại những di tích lịch sử vô giá ở vùng đất này.
Đó là đền thờ vị khai quốc công thần của nhà Lê, vị tướng trí dũng song toàn đã cùng sát cánh với Lê Lợi trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, đền thờ Thái bảo Huân Quận công Nguyễn Tuấn Thiện ở xã Sơn Ninh, cách Văn Giang khoảng vài cây số về phía Tây.
Theo văn bia do Bảo tàng Hà Tĩnh khắc năm 1999 dựng trước đền thì ông sinh năm Tân Tỵ (1401) tại xã Phúc Dương, huyện Đỗ Gia, nay là xã Sơn Phúc, huyện Hương Sơn. Lớn lên trong cảnh đất nước bị giặc Minh đô hộ, ông đã đứng ra thành lập đội quân Cốc Sơn để bảo vệ xóm làng. Năm 1425, khi Lê Lợi kéo quân vào Đỗ Gia, đội quân Cốc Sơn của ông đã cùng nghĩa quân Lam Sơn đánh tan quân Minh trong trận Khuất Giang (nay là Vực Nầm, dưới chân núi Kim Sơn, còn gọi là rú Vằng, liền kề với núi Mồng Gà, ảnh 31). Sau trận thắng này, ông đã cùng Lê Lợi giết ngựa trắng, cắt tóc ăn thề nguyện cùng đánh giặc cứu nước. Cuộc kháng chiến thắng lợi, ông được ban quốc tính là Lê Thiện. Năm 1428, triều Lê Thái Tông, ông được phong là Lĩnh Nan Tuyên lực Minh nghĩa Khai quốc công thần, Đô Tổng quản, Phó Nguyên soái, Trung lang đại phu Tả phụng thần vệ tướng quân, tước Đại trí tự. Năm 1444 và 1461, ông tham gia đánh thắng giặc Đồ Bàn (tức là quân Chiêm Thành, TG) xâm lược châu Hoan. Năm 1460, ông được vua Lê Thánh Tông ban tước Thái bảo Huân Quận công. Ông mất ngày 18 tháng Giêng năm Giáp Dần (1494). Nhân dân dịa phương lập đền thờ gọi là đền Kim Qui. Các triều đại nhà Lê và nhà Nguyễn đều có sắc phong. Mộ ông đặt trên gò đất cao. Trong đền có một tảng đá lớn tương truyền là tảng đá buộc voi của ông trước đây. Năm 1994, Bộ Văn hóa thông tin đã có Quyết định công nhận đền thờ và mộ Nguyễn Tuấn Thiện là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
Độc giả có thể tìm hiểu đầy đủ và chi tiết hơn về nhân vật lịch sử của mảnh đất Hương Sơn này trong công trình nghiên cứu “Nguyễn Tuấn Thiện hay Lê Thiện” của Giáo sư Phan Huy Lê.
Về trận Khuất Giang liên quan đến Nguyễn Tuấn Thiện được nói đến trong văn bia khắc ở đền thờ ông, các bộ sử hiện có cũng có những điều chưa nhất quán. Cuốn Đại Việt thông sử của Lê Quí Đôn cho biết: “Ngày 15 tháng 4 (năm Ất Tỵ, 1425), tham tướng nhà Minh là Lý An, tước An Bình bá, dẫn quân thuỷ từ Đông Quan đến cứu thành Nghệ An. Vua (Lê Lợi) tính toán: Trần Trí bị vây khốn đã nhiều ngày, bây giờ có viện binh tới, y tất nhiên ra đánh. Bèn dời quân đóng tại cửa sông Quật Giang thuộc huyện Đỗ Gia, sai Lê Ninh dẫn binh phục nơi bờ sông. Ngày 17, địch dẫn quân trong thành ra đánh trại Lê Thiệt (?) của ta, chúng mới qua sông được một nửa số quân, bị phục binh trỗi dậy đánh phá, chém hơn nghìn thủ cấp, quân địch bị chết đuối rất nhiều. Trần Trí chạy vào trong thành”. Còn Đại Việt sử ký toàn thư thì ghi: “Vua vây thành Nghệ An, tham tướng nhà Minh là Lý An từ Đông Quan (Thăng Long) đem quân vào cứu. Vua đoán Trần Trí bị khốn cùng lâu ngày, nay thấy có quân đến cứu viện thế nào cũng mở cửa thành ra đánh. Vua bèn dời đồn (ở thành Lục Niên?) về đóng ở huyện Đỗ Gia, đào cửa sông và đem quân phục sẵn ở bờ sông”. Mặc dầu “Quật Giang khẩu” còn có thể hiểu là đào cửa sông hoặc là sông đào như chú thích của cuốn Đại Việt thông sử, nhưng thiết nghĩ sau kinh nghiệm chiến thắng bằng phục binh ở Bồ Ải trước đó mấy tháng, và nếu Bồ Ải chính là khúc sông Ngạn Phố đoạn chảy qua làng Văn Giang thì cửa sông Quật Giang thuộc huyện Đỗ Gia chắc chắn là Vực Nầm cũng trên sông Ngạn Phố, nằm ở thượng lưu và chỉ cách làng Văn Giang khỏang vài ba cây số. Còn “trại Lê Thiệt của ta” chắc là để chỉ đội quân Cốc Sơn của Nguyễn Tuấn Thiện. Văn bia khắc ở đền thờ Nguyễn Tuấn Thiện chắc chắn là chuẩn xác hơn. Chắp nối cổ thư để giải mã sự thật lịch sử quả là một việc nan giải.

Một di tích khác có liên quan là đền thờ Ngũ Long thờ “Tứ Phi Hoàng Thái hậu” ở xã Đức Châu, cách Văn Giang chưa đầy chục cây số, thờ bốn bà Hoàng Thái hậu họ Trần đã có công sinh thành bốn vị vua nhà Hậu Lê. Đó là dòng họ Trần hậu duệ của Trần Duy, Trần Xước hiện sinh sống ở Văn Giang, Đức Vĩnh, Đức Tùng, Đức Châu. Và khoảng một trăm năm sau, khi vương triều nhà Lê rơi vào tay nhà Mạc, khi cuộc chiến tranh nồi da nấu thịt, “Chiến tranh Nam- Bắc triều”, diễn ra thì chính các hậu duệ của dòng họ Trần này ở Văn Giang (nay là dòng họ Trần Trọng ở Văn Giang nói trên) đã cưu mang, đùm bọc và nuôi nấng con cháu của Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng, một trung thần nghĩa khí của nhà Lê, che chở cho con cháu của ông trước sự truy lùng của quan quân nhà Mạc. Và thế là sau đó, trong một thời gian dài đến hàng trăm năm, hậu duệ của Tống Tất Thắng sinh sống và phát triển ở Văn Giang đều mang họ Trần, chỉ giữ tên đệm là Tất của ông tổ Tống Tất Thắng. Theo tộc phả họ Tống thì người con trai cả của Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng là ông Sầm có hai người con là ông Tông và ông Đạt. Ông Đạt đã được ông Trần Nhân Vinh nhận làm con nuôi và lấy tên là Trần Tất Đạt. Họ Trần gốc họ Tống ở Văn Giang hình thành từ đó. Sau này, khi đã đổi trở lại thành họ Tống Trần, con cháu họ Tống cho đến nay mỗi khi tế lễ đầu Xuân đều tổ chức cúng lễ 5 vị tiên liệt họ Trần đã có công cưu mang nuôi nấng con cháu họ Tống. Năm vị tiên liệt họ Trần này là các vị Trần Phúc Nghi, Trần Phúc Toàn, Trần Văn Bình, Trần Văn Diễn và Trần Nhân Vinh.
Theo các bậc cao niên ở Văn Giang kể lại thì nhà thờ họ Tống thờ Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng ở làng này trước đây được xây dựng ở cạnh bờ sông Ngạn Phố sát chân núi Thiên Nhẫn, nơi có địa danh hiện nay là Đàng Thoong của làng Văn Giang, cách Chùa Đức Mẹ chỉ dăm trăm mét. Tại khu vực này trước đây còn có một ngôi mộ lớn, xung quanh cây cối um tùm, được gọi là “lăng họ Tống”. Cạnh đó là nhà Thánh và đền Văn Giang của làng. Các di tích này hiện nay không còn nữa. Về sau, nhà thờ họ Tống được xây dựng lại ở xóm Vườn, tức xóm Thịnh Đồng hiện nay. Năm 2008 nhà thờ này đã được hậu duệ của Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng ở làng Văn Giang trùng tu.
Chưa rõ nhà thờ này được xây dựng năm nào, nhưng bên trong thượng điện còn có tấm bia đá khắc ghi năm dựng bia là ngày mười sáu tháng mười năm Thành Thái thứ năm (1904). Nội dung văn bia xin được dịch ra tiếng Việt như sau:
“Thánh Tổ là Tiến sỹ khoa Ất Sửu triều Lê Đoan Khánh, phong tước Quang Lộc Đại Phu, thăng Lại bộ Thượng thư, Nhập nội Hành Khiển, Đông Các Đại học sĩ, Thái bảo Nghĩa Quận công, Đô Nguyên soái, thống lĩnh binh mã trong thiên hạ. Tính khí Ngài anh minh, chính trực, đối xử khoan dung, độ lượng, nghĩa cả đức dày, có công phò vua gây dựng cơ nghiệp giữ nước trị dân, uy danh lừng lẫy, công trạng hiển hách. Khi mất được phong tặng Trung thần, nhân nghĩa hiển linh, giúp đời giữ đạo, bảo vệ văn võ thánh thần. Được các triều vua đời sau gia phong địch tiết tuyên trung hiển liệt.
Ngày mười sáu tháng mười triều vua Thành Thái thứ năm”.

Cùng với bia đá trong Thượng điện, nhà thờ họ Tống ở Văn Giang còn lưu giữ được một số bằng sắc phong thần của các triều vua Thành Thái năm thứ 6 (1894), Khải Định năm thứ 9 (1924) cho Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng.
Noi gương trung nghĩa với đất nước của tổ tiên, con cháu họ Tống ở Văn Giang không những chăm lo hương khói, tu bổ nơi thờ tự Thủy tổ Tống Tất Thắng, mà các thế hệ hậu duệ của ông đã có nhiều đóng góp cho công cuộc đấu tranh và bảo vệ nền độc lập cũng như xây dựng Tổ quốc Việt Nam. Trong các đạo sắc còn được lưu giữ ở nhà thờ họ Tống ở Văn Giang có một đạo sắc của vua Khải Định năm thứ 9 (1924) giao cho làng Văn Giang thờ phụng một vị Nhân thần là Tống Tôn công, tự Xuân, là Tôn thần của làng. Đáng tiếc là Tộc phả họ Tống ở Văn Giang bị thất lạc nên đến nay vẫn chưa xác định được vị Tôn thần này sống ở thời gian nào và có công lao như thế nào mà được triều đình nhà Nguyễn phong thần.
Theo lời kể của Đại tá Trần Hoành, nguyên Viện trưởng Viện Kiểm sát quân sự Tổng cục hậu cần, người làng Văn Giang, thì trong phong trào Xô Viết Nghệ - Tĩnh, ông Tống Trần San là người đã trực tiếp trèo lên cây đa ở gần “lăng họ Tống” và lên cây thông cổ ở Chùa Đức Mẹ trên núi Thiên Nhẫn để treo cao lá cờ đỏ của Cách mạng, cổ vũ nhân dân làng Văn Giang tham gia phong trào Xô Viết Nghệ - Tĩnh. Sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, dân tộc ta phải tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp. Văn Giang ngay từ những năm 1945 cho đến khi hòa bình lập lại năm 1954 là nơi đóng quân của xưởng quân giới, mà dân làng này thường gọi là “xưởng lựu đạn”, và cả “xưởng ấn loát” in những tờ giấy bạc Tài chính cho toàn quốc của Chính phủ Cụ Hồ. Một trong những người thợ in, đốc công của “xưởng ấn loát” hồi đó nay đã nghỉ hưu, cũng là người lưu giữ các sắc phong của nhà thờ họ Tống ở Văn Giang là ông Tống Trần Nhung. Họ Tống Văn Giang đã sinh ra vị tướng tình báo quân sự, nguyên Cục phó Cục Tình báo quân sự Tống Trần Thuật, người đã có nhiều công lao đóng góp cho hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta chống kẻ thù xâm lược ở thế kỷ 20. Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, dân tộc ta phải tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp. Văn Giang ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến thần thánh đó cho đến khi hòa bình lập lại năm 1954 là nơi đóng quân cvủa xưởng quân giới sản xuất vũ khí cho quân đội ta, mà người dân làng này thường gọi là “xưởng lựu đạn”. Do địa thế hiểm trở và khá biệt lập nên nơi đây còn là nơitập kết tù binh Âu Phi sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954. Làng Văn Giang còn có một đặc sản trước đây nổi tiếng cả vùng Nghệ Tĩnh là “mật Văn Giang”, thứ nguyên liệu không thể thiếu được để làm nên “kẹo lạc cu đơ” chính gốc, chính hiệu. Thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, những năm sau mươi của thế kỷ trước, nơi đây còn có một xí nghiệp sản xuất đồ sứ mà bà con ở đây gọi là “xưởng đọi” cung cấp bát đĩa cho cả vùng Nghệ - Tĩnh. Cũng vì vậy, nơi đây cũng là nơi chịu nhiều tang tóc đau thương bởi bom đạn của máy bay giặc Mỹ. Mảnh đất Văn Giang nhỏ bé, hiền hòa và thanh bần nhưng thơ mộng này không chỉ là nhân chứng mà còn là yếu tố quan trọng góp phần làm nên lịch sử hào hùng của dân tộc, của đất nước trong hơn nửa thiên niên kỷ vừa qua./.



Facebook Comments

#2 donalbaby_242 (Gửi lúc 10:46AM, 10-01-2010 )

    ]v[y L(H)v3

  • Thành Viên
  • PipPipPipPipPip
  • Bài viết: 2458

21.gif 24.gif

Tiếng Lào á ! Hay tiếng Mông Cổ ! hô hô ..... Đổi font đê !
♥- [Donal3bi] -♥




0 người đang xem chủ đề

0 thành viên, 0 khách, 0 thành viên ẩn danh.


TEXT LINK:
- Nhạc vàng